vendredi 3 avril 2015

nơi thứ mười một


ĐỨC GIÊ-SU BỊ ĐÓNG ĐINH VÀO THÁNH GIÁ

Và khi đến nơi gọi là Đồi Sọ, họ đóng đinh người ở đó, và những tên tội phạm, một đứa bên phải và một bên trái” (Lc 23, 33). đối với những người yêu mến và hâm mộ Đức Giê-su, điều này phải có vẻ như sự thất bại không thể chịu nổi. Ngài đã có quá nhiều lời hứa : sự tài giỏi, một trái tim rộng mở, sự tiếp xúc chữa lành bệnh tật, một sự hùng biện làm nhiều cuộc đời chao đảo. Một khi mọi thứ ra như có thể với ngài. Bây giờ ngài được mang đi đến cái chết của một tên tội phạm, bị treo giữa hai tên trộm cướp. “Nhưng chúng tôi đã hy vọng ngài sẽ là người cứu rỗi Israel,” hai môn đệ trên đường Emmaus nói (Lc 24, 21).
Ngài có vẻ như một nạn nhân không được trợ giúp, bị xô đẩy, bị mắng nhiếc, bị buộc phải đi đến nơi đóng đinh, và bây giờ bị đóng đinh trên thập tự giá. Và rồi, đặc biệt trong Tin mừng Gioan, ngài im lặng gánh chịu. Colin Carr OP viết, “Ngài biết sắp xảy ra chuyện gì ; những người đến bắt ngài còn hoảng sợ ngài hơn là ngài sợ họ. Lính gác vả ngài vì nói xúc phạm đến Thầy Cả Thượng Phẩm đã bị làm cho bẽ mặt cách rõ ràng. Khi quan Phi-la-tô “xét xử” Giê-su thì giống Phi-la-tô đang đứng trước tòa... ngài khát, không như nạn nhân mà như một người đang hoàn tất những gì đã viết về mình ; cái chết thời sự của ngài là một sự hoàn tất.”
Một lúc trước khi bi kịch cái chết của ngài bắt đầu, ngài nói, “Bây giờ tâm hồn tôi xao xuyến. Và tôi sẽ nói gì ? 'Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này'? Không, chính vì thế mà con đến giờ này. Lạy Cha, xin làm vinh danh Cha” (Ga 12, 27 – 28). ngài lôi kéo cách thận trọng đến gần chúng ta trong sự cần trợ giúp của chúng ta. Ngài ở trong tất cả kinh nghiệm thất bại và chệch hướng của chúng ta, vì thế chúng ta không thể trở thành nạn nhân mà là người chiến thắng với ngài.
Ngài bị đóng đinh trên thập giá, đóng đinh cách chắc chắn với mọi thất bại của chúng ta, được định danh với bất cứ ai có vẻ như đang thất vọng. Con cái thất vọng vì cha mẹ, vợ hay chồng đang rơi vào thế chao đảo, linh mục bị thất sủng. Ngài ôm trọn lấy tất cả những ai đang cảm thấy rằng Chúa đã bỏ rơi họ. Ân sủng mạnh mẽ của ngài ở trong những ai cảm thấy rằng cuộc đời họ đang ra rìa, và chẳng có chi họ có thể làm. Nơi ngài, không cuộc đời nào là hết voi71 cái chết. Không ai là nạn nhân sau cùng không được trợ giúp. Số phận của chúng ta sau hết ở trong tay ngài kể từ khi ngài nắm lấy họ.
Đức Benedicto XVI nói, “chúng ta hay đóng đinh chính mình vào ngài, chống lại cơn cám dỗ đứng tách biệt, hay gia nhập với những kẻ khác đang nhiếc móc ngài.” cánh tay của ngài giang rộng trên thánh giá, mỡ rộng cho mọi người, chỉ cho chúng ta chiều cao và chiều sâu, chiều rộng và chiều dày của tình yêu Thiên Chúa, nó không có biên giới. Lúc tối tăm nhất, khi mặt trời và mặt trăng không còn chiếu sáng, là sự chổi dậy của vinh quang.

nơi thứ mười


ĐỨC GIÊ-SU BỊ LỘT ÁO

Giê-su bị lột áo. Trên thập tự giá ngài sẽ trần truồng. Sách Sáng Thế nói cho chúng ta rằng khi Adam và Eva ăn trái cây biết lành biết dữ, thì họ trở nên trần truồng, và họ thấy xấu hổ. Tại sao bất ngờ họ lại xấu hổ ? Vì ăn trái cây, mà họ nhìn người khác với con mắt mới. Họ đã trở thành đối tượng trong măt người khác, để bị định giá và xét đoán.
Chúng ta thường nhìn người khác cách có chủ ý, đo lường mọi thành quả của họ, ghi nhận mọi yếu điểm. Cái nhìn của chúng ta như lột sạch họ, không chỉ với thú tính mà còn bởi sự xét đoán. “I have got him down to a T.” Chúng ta sẽ nao núng trước con mắt của kẻ khác khi họ chụp xuống chúng ta. Chúng ta trần trường ngay cả khi mặc quần áo. Giá trị của chúng ta được lựng giá bởi các nhà quản lý, một vài công nhân theo chúng ta. Chúng ta bị xét đoán qua vẻ đẹp, hiệu suất tính dục, những khiếm khuyết của chúng ta rộng hay hẹp. Người ta sẽ kiểm tra áo quần của chúng ta, xem xét tình trạng của chúng ta, thu nhập của chúng ta. Chúng ta có thể rơi vào tay của giới truyền thông và bi5 bẻ thành từng mảnh.
Ngay ở nhà, chúng ta cũng bị những cặp mắt xét đoán của những người ta thương mến nhất. Giê-su ở gần với chúng ta, chia sẻ sự trần truồng của chúng ta, và cất đi sự xấu hổ, nhiếc móc, bề ngoài một Đấng Mê-sia thất bại. Tin mừng trích lại Thánh Vịnh 22 : “Bọn ác đó trong ngoài vây bủa,
chúng đâm con thủng cả chân tay, / xương con đếm được vắn dài; / chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem.” (c. 17-18). Ngay cả áo dài của Đức Giê-su chỉ là chiến lợi phẩm, được chia sẻ giữa đám quân lính để thêm vào số tiền họ được trả. Họ có phần nơi “giá trị thực – net value” của ngài. Con của Thiên Chúa Tối Cao được đối xử như một thứ tài sản, cứu chuộc cho hết mọi người đạ bị mua bán, từ cầu thủ bóng đá cho đến các cô gái điếm. Ai lại không có giá ?
Trong bộ phim 12 Years a Slave 12 năm nô lệ, chúng ta thấy vạch trần nạn buôn người tàn bạo nhất mà nó từng xảy ra. Các người nộ lệ bị lột trần truồng để kiểm tra dò xét, từng cơ bắp được kiểm tra, từng cái răng bị kiểm tra như thể họ là các con ngựa đem bán. Họ không còn là người nữa. Khi một phụ nữ bị bán đi khỏi những đứa con, cô đã khóc cách không thể an ủi. Nhưng bà chủ mới của cô không thể tin như thế rằng một người có thể thực sự cảm thấy giống như cô : “Cô ta sẽ sớm quên các đứa con của cô ấy thôi.”
ngày nay, hàng triệu người vẫn còn bị đày xuống hàng nô lệ – những người phục vụ trong nhà bị giữ trong cảnh giam cầm. Người lớn và ngay cả trẻ em bị bán đi cho sex. Họ đã bị cởi bỏ quá nhiều và xấu hổ trước những con mắt xét đoán của khách hàng. Thịt người trở thành thịt. Giê-su chia sẻ sự hổ thẹn với chúng ta.
Nhưng với con mắt đức tin, chúng ta có thể nhìn thấy sự trần truồng với khía cạnh khác. David cởi trần ra để đánh nhau với Goliah. Giê-su, Con Đavid, đã cởi trần ra để chống lại mọi sự hổ thẹn mà chúng ta chịu đựng, mỗi sự xấu hổ làm cho chúng ta lùi bước. Ngài leo lên thập giá để đạt đến chiến thắng cho phẩm giá của chúng ta.


nơi thứ chín


ĐỨC GIÊ-SU NGÃ LẦN THỨ BA

Giê-su ngã xụp xuống, sóng soài. Đàng thánh giá cảm động nhất mà tôi từng tham dự là ở khu ổ chuột nghèo ở Montevideo, Uruguay. Mỗi chặng, người ta nói về việc làm sao họ sống cuộc vượt qua của Đức Giê-su ngày hôm nay và tin rằng ngài thật gần gũi với họ. Đôi khi ngài có vẻ như vô hình, nhưng họ vẫn tin. Etienne Grieu, tu sĩ dòng Tên viết, “Một thế giới ngự trị bởi sự cạnh tranh cam kết trong một nhiệm vụ cao cả của việc xếp loại, không chỉ sự hoàn hảo mà còn cả con người nữa. Cuối bảng xếp hạng là những người không đủ hiệu năng. Họ trở nên vô hình giữa những người khác, như thể họ bất khả chứng tỏ tính hữu dụng của họ trong bất cứ cuộc trao đổi mà họ dự phần vào... Họ cũng cảm thấy hổ thẹn bởi vì họ chắc chắn không thể có nghĩa để nói họ là ai hay làm người ta chú ý tới điều quý giá duy nhất họ sinh ra.”
Katherine Boo mô tả thế giới của những người nghèo nhất, những người sống bằng nghề thu lượm rác ở Mumbai. Họ kiên cường, hóm hỉnh, thậm chí rất sáng tạo, nhưng có số phận bi đát. Bà nói về một trong số họ, “nghề của ông có thể phá hỏng một cơ thể trong thời gian rất ngắn. Việc lục bới những bô rác trở nên rất dễ mắc các bệnh truyền nhiễm. Khi da bị rách, những con giòi chiu vào. Chấy rận làm tổ trên tóc, những vết hoại tử ăn dần dần trên các ngón tay, bắp chân sưng phù lên như thân cây, và Abdul và những đứa em của nó vẫn tiếp tục đánh cuộc với điều mà những người lượm rác sẽ là sau cái chết.” gần nhà hơn về phía Tây, người ta có thể bị ép bởi những đồng lương thấp còm, khi tự hỏi ăn thế nào hay sống thế nào, khi phụ thuộc vào ngân hàng lương thực (nơi phân phát đồ ăn miễn phí – ND). Thường thì họ bị thất vọng bởi giới truyền thông. Rowam William và Larry Elliott ghi chú, “Truyền thông giới thiệu những thanh thiếu niên hư hỏng, những đứa trẻ lêu lổng, những ông bà béo phì, những cô gái mang thai ở tuổi vị thành niên và đám say xỉn thường được định nghĩa cho giới lao động.”
Lần ngã xuống của Giê-su đem chúng ta đến gần hơn với họ để họ cũng có thể một ngày nào đó chia sẻ vinh quang với ngài. Oscar Romero thích ứng câu nói của thánh I-rê-nê người Lyon : Gloria Dei vivens pauper, “Vinh quang của Thiên Chúa là người nghèo hằng sống.”
cũng có những người cảm thấy sóng xoài vì tinh thần xa xút, như Phê-rô người đã chối Chúa ba lần. Giê-su gắng sức và mang ông theo, người bước đi đến gần với thập giá hơn, và từng bước tiến gần với Phục Sinh hơn. Rồi ngài sẽ cất khỏi Phê-rô gánh nặng, và khỏi tất cả chúng ta, với sự tinh tế vô cùng. Thậm chí không chiếu đến thất bại của ngài, ngài cho Phê-rô ba cơ hội để không nói điều đó : “Anh có yêu mến Thầy hơn những người khác ?” (Ga 21, 15). Phê-rô sẽ có thể đạt tới điều vượt khỏi mối ham muốn hời hợt để giữ bộ da của mình cho điều sâu sắc hơn, kẻ đói khát vình cửu của cuộc đới ông, tình yêu thiên chúa : “Thầy biết là con yêu mến thầy.” và rồi ngài cũng có thể dứng lên và tiếp tục bước đi. Cho dù có điều gì chúng ta đã làm, Giê-su nâng chúng ta trên bước đi của ngài.


nơi thứ tám


NGƯỜI PHỤ NỮ THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM

Trong suốt cuộc hành trình thập giá, người duy nhất Đức Giê-su ngỏ lời là phụ nữ : Maria, mẹ ngài, và những người con gái thành Giê-ru-sa-lem. Trái tim của Maria bị lưỡi gươm xuyên qua. Nhưng người phụ nữ này chắc hẳn không biết Đức Giê-su. Họ không phải là môn đệ của ngài. Hẳn họ đứng đó chỉ như để đáp ứng cho nghi thức tang lễ phải thi hành theo nghĩa vụ đối với người tử tù. Họ là những người khóc mướn chuyên nghiệp. Trong bức tranh, hai trong họ còn không nhìn vào ngài.
Đức Giê-su nói với họ, “Hỡi các con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc cho ta, nhưng hãy khóc cho chính các người và cho con cháu các người. Vì này, đang đến ngày, khi người ta sẽ nói, 'phúc cho những người không sinh con, và những cung lòng không hề mang thai, và những bầu vú chẳng hề cho con bú!' Rồi người ta sẽ nói với các ngọn núi, 'hãy đổ xuống chúng tôi' ; rồi với các ngọn đồi, 'Hãy phủ lấy chúng tôi.' Vì nếu họ làm điều này khi cây còn xanh, thì điều gì sẻ xảy ra khi chúng khô ?” (Lc 23, 28 – 31). giờ đây, nỗi sầu đau của họ là chính thức và trở thành nghi thức ; một ngày nào đó nó sẽ trở nên sâu sắc và chân thành.
Ngay cả trong cơn hấp hối Đức Giê-su cảm thấy sâu xa nỗi đau nó sẽ là của họ khi Giê-ru-sa-lem bị phá hủy. Ngài bị nỗi đau của người ta chạm đến nơi cạnh sườn, và ngài vui niềm vui của họ hơn cả chính họ.
Thánh Phao-lô nói với người Roma, “hãy vui với người vui, và khóc lóc với ai đang khổ sầu” (Rm 12, 15). Nhưng tính tự cao tự đại làm vẩn đục sự tinh khiết của sự đáp trả của chúng ta. Niềm vui của chúng ta có thể đưa đến cay đắng : Tai sao tôi không cưới lấy một phụ nữ xinh đẹp được thừa hưởng một gia tài giàu có ? Tại sao cuốn sách của tôi lại không đạt được thành công mỹ mãn ? Hay, tạ ơn Chúa tôi đã không mắc phải ung thư, hay bị đuổi việc, hay bất cứ sự gì. Donald Nicholl nói về một người khiếm thị, người này ngồi bên ngoài một ngôi Chùa bên Nhật. Ông nói rằng ông luôn biết được khi nào có mặt người thánh thiện. Khi người đó “diễn tả niềm vui mừng của mình với cơ hội tốt đẹp của người khác, tất cả các bạn nghe thấy đều là niềm vui mừng. Khi người ấy diễn tả nỗi buồn đau, tất cả các bạn nghe thấy đều buồn.”
Lời hứa của Chúa là ngài sẽ lấy khói chúng ta quả tim bằng đá và cho chúng ta quả tim bằng thịt. Một quả tim bằng thịt là một quả tim chia sẻ niềm vui không có dấu vết của sự ghen tị và nỗi buồn của kẻ khác không chút schadenfreude. Một niềm vui hoàn hảo chỉ có thể khi cái tôi không còn ngăn trở việc xác định tự nhiên với người khác và chúng ta không còn nhìn người khác như kẻ thù. Cho đến khi đó niềm hạnh phúc của chúng ta luôn bấp bênh, luôn giữ đôi mắt mở to với những người cạnh tranh, những người sẽ đánh gục chúng ta. Xin Chúa ngăn lại quả tim bằng đá của chúng con với vỏ bọc dày của tính vị kỷ mà nó làm cho chúng con chết đi với những gì người khác sống !

nơi thứ bảy


ĐỨC GIÊ-SU NGÃ LẦN THỨ HAI

Khi Đức Giê-su ngã xuống đất lần thứ nhất, thì có thể hiểu được. Ngài đang vác thánh giá nặng nề. Ai mà lại không ? Nhưng giờ đây sau khi được ông Xi-mong vác giúp. Vì thế khi ngài ngã xuống một lần nữa, chính là bởi vì ngài quá kiệt sức. Ngài đã hoàn toàn kiệt sức.
Xã hội phụ hệ của chúng ta bị cuốn theo cái nhìn mang tính kẻ cả trên những người yếu đuối về mặt thể lý. Người mạnh mẽ và mạnh khỏe coi thường những người yếu đuối : “thật tội nghiệp”, như người già cả và bệnh hoạn lâu dài ! Vào mùa hè 2013 tôi bị bệnh một thời gian ngắn. Căn bệnh gây nhiều phiền phức cho tôi trong những việc bình thường. Mặc quần áo là thử thách chính yếu. Tắm rửa không còn hợp lý nữa kể từ khi tôi đủ mạnh để tự làm lấy, và xấu hổ để nhờ người khác. Tôi hằng biết ơn kinh nghiệm này, bởi vì khi tôi nhìn thấy những người yếu đuối về mặt thể lý, tôi đã ở đó, và chắc hẳn sẽ còn ở đó nữa chẳng bao lâu nữa. Thiên Chúa chúng ta chia sẻ sự yếu đuối về thể lý và chúc lành cho nó.
Ngài cũng ôm trọn lấy chúng ta trong cái yếu đuối về tinh thần của chúng ta. Khi chúng ta ngã lần thứ nhất, chúng ta có thể đổ lỗi cho ai khác. “Tôi không thích nó!” nhưng khi chúng ta ngã xuống lần nữa, rồi lần nữa, chúng ta phải đương đầu với tính ủy mị về mặt tinh thần không thể chối cãi. Chúng ta có thể bị cám dỗ dùng nó như một lời xin lỗi. “Tôi chỉ là người yếu đuối. Chẳng có chi tôi có thể làm cho nó,” tôi phải nói như tôi đã mở nắp chai rượu khác hoặc đã ăn cái bánh đô-nất thứ ba. Nhưng đó là một hình thức của sự thất vọng.
Thánh Phao-lô viết, “khi tôi yếu, rồi tôi mạnh” (2 Cr 12, 10). khi tôi yếu, tôi có thể khám phá ra rằng tôi không đôn độc chống chọi với gió bão. Giê-su chia sẻ sự yếu đuối của chúng ta vì thế chúng ta có thể chia sẻ sức mạnh của ngài. Trong sâu thẳm của mỗi chúng ta có sức mạnh của Con Thiên Chúa. Trong nội tâm sâu xa của tôi, Thiên Chúa vẫn đang chờ đợi, và ân sủng của ngài không ngừng nâng đỡ chúng ta, và đat985 trở lại lòng can đảm trong lòng chúng ta. Đức Phan-xi-cô nói rằng luân lý “không bao giờ quật ngã chúng ta” nhưng luôn nâng chúng ta đứng dậy.
Chúng ta tiếp tục bước đi. Lời cuối cùng của Gregory Robert trong Shantaram, một câu truyện tuyệt vời về một tội phạm chạy trốn đã học biết thế nào là người bình an, mời chúng ta chịu đựng : “Vì đây là điều chúng ta làm. Đặt một chân lên phía trước và rồi chân kia. Đưa cặp mắt hướng đến chỗ lộn xộn đó và cười với thế giới này một lần nữa... Kéo những thập giá vào trong niềm hy vọng về đêm khác. Đẩy những trái tim can trường v'o trong lời hứa về một ngày mới... quá lâu sô phận đã bắt chúng ta chờ đợi, chúng ta sống tiếp. Chúa giúp chúng ta. Chúa tha thứ cho ta. Chúng ta tiếp tục sống.”

jeudi 2 avril 2015

nơi thứ sáu



BÀ VÊ-RÔ-NI-CA LAU MẶT CHO ĐỨC GIÊ-SU

Đây là một giai thoại trên đường thập giá, một phụ nữ cảm thương Đức Giê-su và lau mặt cho ngài. Hình khuôn mặt của ngài in lại trên tấm khăn. Vì thế tên của bà, Vê-rô-ni-ca, nghĩa là “hình ảnh chân thật”.
Câu truyện không được nghe nói đến trước thế kỷ 13, nhưng nó bao gồm chân lý sâu sắc. Israel đã tổn thương khi nhìn thấy mặt Đức Chúa : “Lạy CHÚA, Ngài quên con mãi tới bao giờ? / Tới bao giờ còn ngoảnh mặt làm ngơ?” (Tv 13, 1). Dung mạo của Đức Chúa trở nên xác phàm nơi khuôn mặt của Đức Giê-su, người nở nụ cười dịu dàng với những kẻ tội lỗi. Người nhìn với lòng vui sướng ông Gia-kêu nhỏ bé thích phô trương đang vắt vẻo trên cây và quyết định ở lại nhà ông hơn là những người tự cho là người công chính và đáng kính. Người cười với Levi, một người thu thuế khác và kêu gọi ông làm môn đệ. Người nhìn Phê-rô với vẻ ân cần sau khi ông đã chối từ ngài.
Nhưng còn chúng ta thì sao ? Chúng ta không thấy khuôn mặt ngài và ngay cả chúng ta cũng không biết khuôn mặt của ngài giống ai. Chúng ta là Nhiệm Thể Đức Ki-tô và vì thế chúng ta phải là khuôn mặt của ngài. Trong tác phẩm Monsignor Quixote của nhà văn Graham Greene, vị linh mục gọi khuôn mặt người là “tấm gương phản ánh hình ảnh của Chúa”. Chúng ta bị cười bởi Thiên Chúa vô hình, và điều này được phản chiếu trên khuôn mặt của chúng ta. Như trẻ nhỏ chúng ta học cười bởi cha mẹ và những người khác cười. Chúng ta tập hợp xung quanh những đứa trẻ, và làm ồn ào vui vẻ, và ười. Chúng ta biết được một cái nhìn chứa đầy sự duyên dáng từ nụ cười lịch thiệp mà với nụ cười ấy Thiên Chúa nhìn chúng ta. Đức giáo hoàng Phan-xi-cô nói, “Này, đây là tôi, một người tôi lỗi mà Chúa đã ngoái nhìn.” Ngài làm rạng rỡ nụ cười nở ra trên khuôn mặt của đám đông xung quanh ngài.
Những khuôn mặt có thể nghiền nát người dân. Havana và Baghdad bị thống trị bởi những khuôn mặt độc đoán của Fidel Castro và Saddam Hussein. Cảnh sát và các nhân viên thuộc cơ quan di trú ở nhiều nước luôn hăm he. Người nghèo trở nên quen thuộc với những cái cau mày khó chịu. Hơn một nửa nhân loại hiện nay sống trong các thành phố, thường đói khát những khuôn mặt quen biết. Những người mà bạn thấy trong những hoang mạc bao la của các đô thị ngày hôm nay, có những khuôn mặt mà chúng thường lạnh lẽo, mù quáng. Sự tiếp xúc thị giác tránh khỏi sợ hãi và dửng dưng.
Một mục sư già trong tác phẩm Gilead của Marilynne Robinson nói, “bất cứ khuôn mặt nười nào đều là một yêu sách cho bạn, bởi vì bạn không thể giúp nhưng hiểu được sự riêng biệt của nó, làng can đam và độc nhất của nó.” Nó thuộc về thừa tác vụ của mỗi người đã lãnh bí tích rửa tội trở thành khuôn mặt của Đức Ki-tô trong mối giao tiếp bình thường của cuộc sống hàng ngày. Đó là sự khởi đầu nho nhỏ nhưng cần thiết của toàn bộ chứng từ ki-tô giáo. Theo giai thoại này, Đức Giê-su đang trên đường thập giá tìm thấy giữa đám đông những khuôn mặt chứa đầy căm nghét một khuôn mặt đem lại cho ngài lòng thương cảm, và với bà/cô ngài trao ban chính khuôn mặt của mình.
Có thể khuôn mặt của chúng ta được khắc họa bởi ân sủng trong sự dịu dàng và sự hiếu khách, “hình ảnh thực sự” của ngài. Khi tôi đi với đức giám mục địa phận Oran xuyên qua khắp hoang mạc Sahara của Agerie vào tháng giêng 2014, chúng tôi không chắc làm sao có thể tìm ra đường đến đan viên nơi chúng tôi sẽ qua đêm. Chúng tôi đi ngang qua một người đan ông cùng với hai con trai của ông ta, những người theo đạo hồi, họ cười với chúng tôi và cho chúng tôi qua đêm ở nhà họ. Tôi còn nhớ từng khuôn mặt rất sáng sủa ấy. Cách nào đó nơi ba khuôn mặt ấy, ở giữa nơi hoang vu, tôi đã gặp khuôn mặt của Chúa bằng xương bằng thịt. Có thể mội người chúng ta như một khuôn mặt cho bất cứ ai lạc lối trong sa mạc !

nơi thứ năm



ÔNG SI-MONG VÁC ĐỠ THÁNH GIÁ CHO ĐỨC GIÊ-SU

SAU một khoảnh khắc dịu dàng, cuộc gặp gỡ giữa mẹ và con, có cuộc gặp gỡ khác như ta có thể tưởng tượng ra, của hai người xa lạ mà cuộc đời họ bất chợt giao nhau. Điều đó có nghĩa gì cho mỗi chúng ta ?
Đức Giê-su nói với các môn đệ của mình rằng mỗi người phải mang lấy thập giá của riêng mình. Giờ đây người thấy rằng ngài không còn sức để vác thánh giá của mình nữa. Ngài cần đến sự giúp đỡ. Có vẻ như những người lính đã xô đẩy người về phía trước bởi vì họ muốn làm cho xong bổn phận khủng khiếp này càng nhanh càng tốt để họ có thể về lai lai với bạn bè. Theo thời gian trong tin mừng của thánh Gioan, Ngày Sa-bát đã gần tới, và vì thế mọi thứ phải làm cho xong trước khi ngày lễ bắt đầu (Ga 19, 31). Người liêu siêu chậm chạp trở nên chướng ngại. Vì thế ông Xi-mong người Ki-rê-nê được gọi đến giúp. Chắc chắn không ra ngoài lòng thông cảm đối với Đức Giê-su, cho bằng sự mất kiên nhẫn để làm cho nhanh công việc.
Văn hóa Tây phương đẩy mạnh tư tưởng về con người độc lập người không cần đến ai khác. Chúng ta tự đứng trên chính đôi chân mình. Thật xấu hổ khi cần đến sự giúp đỡ của người khác, đặc biệt là người ngoại. Khi tôi phải chịu một cuộc giải phẫu lưng, tôi cần đến người xa lạ chăm sóc giữ cho sạch sẽ, xoay trở cho tôi ở trên giường, và dẫn tôi đi vệ sinh. Nhưng sự lệ thuộc này là phần của con người, và được Chúa bao bọc lấy nơi Đức Giê-su vào lúc này. Chúa nói với thánh nữ Catarina người Siena, “Ta có thể bổ khuyết tốt cho từng người trong chúng con với tất cả những gì chúng con cần, cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhưng ta muốn làm cho con phụ thuộc lẫn nhau đến nỗi mà mỗi người trong chúng con trở thành thừa tác viên của ta, phân phối ân sủng và ơn lành mà chúng con lãnh nhận từ ta.” Nơi Giê-su, chúng ta thấy Chúa cần chúng ta, cần uống nước từ người phụ nữa Samaria bên bờ giếng, cần giúp đỡ để vác thánh giá. OK, trở nên nghèo túng.
ông Xi-mong người Ki-rê-nê có vẻ như đang vượt qua đám đông khi ông bị bắt lại trong thảm kịch của người mà cho đến lúc ông ông chẳng hề biết là ai. Ông không còn cách nào khác. Và rôi, thánh Mác-cô cho chúng ta ấn tượng là ông đã trở thành một môn đệ, mà các con ông, Alexandre và Rufus, trở nên tiếng tăm trong công đoàn. Chắn chắn đây phải là cuộc gặp gỡ không chủ ý đã thay đổi đời ông. Bị ép phải vác đỡ thánh giá cho kẻ xa lạ, ông lại trở thành môn đệ của người ấy.
Đau khổ có thể băng qua chúng ta bất cứ lúc nào. Cuộc đời tốt đẹp, chúng ta hạnh phúc, và rồi bất thình lình chúng ta gặp tai nạn, hay khám phá một căn bệnh, hoặc trở nên thất nghiệp. Chúng ta có thể kêu gào, “Thật không công bằng ! Tại sao lại là tôi ? Tại sao vào lúc này ?” chúng ta có thể bị cưỡng ép phải vác lấy thánh giá lúc ta ít chú ý đến nhất. Đó có thể là thời điểm của hồng phúc, khi ta khám phá ra một tình thân mới với Chúa, chia sẻ gánh nặng với ngài. Như thánh Phaolo viết, “Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1, 24).