Từ
ngày 11 đến 14 tháng tư 2004 đã diễn ra tại Atlanta, bang
Georgia (Hoa Kỳ), hội nghị của National Federation of
Priests’ Councils - NFPC. Cha Timothy Radcliffe, nguyên BTTQ Dòng
Đa Minh, đã có buổi thuyết trình và tại đây cha đã
trình bày về cơn khủng hoảng niềm tin làm xáo động
Giáo hội và sự hoảng loạn của một số linh mục.
Chúng tôi xin công bố bản văn của buổi thuyết trình
này1
:
“Làm
sao trở thành người mang tin vui ?” Đó là chủ đề mà
tôi được mời trình bày. Điều này giả thiết rằng
chính chúng ta bị một niềm vui nào đó đụng chạm tới.
Nếu quý vị u sầu và buồn bã, thì liệu ai sẽ tin rằng
Phúc Âm là tin mừng ? Nietzsche nói rằng các môn đệ của
Đức Giêsu phải có vẻ “được cứu độ” hơn chút
nữa.
Nhiều
người có lý do giải thích rằng chúng ta có thể bị
xuống tinh thần. Giáo hội đang đi qua cơn khủng hoảng
thất vọng. Ở Hoa Kỳ hơn bất cứ nơi nào khác, hình
như, các người công giáo tỏ ra bị chia rẽ sâu sắc.
Phần lớn các giáo phận và các dòng tu chịu đau khổ vì
thiếu ơn gọi. Nhiều linh mục hồi tục, chưa nói đến
các vu lăng nhăng ấu dâm và về cách thức mà người ta
xử lý. Việc quý vị có xuống tinh thần cũng hoàn toàn
dễ hiểu. Việc một tài xế taxi hay một luật sư xuống
tinh thần không mâu thuẫn với nghề nghiệp mà người
này đang hành nghề. Một nhân viên kế toán hay một người
thợ cắt tóc có thể thường xuyên bị trầm cảm mà vẫn
không ảnh hưởng đến chất lượng công việc. Trái lại,
một linh mục không bao giờ có đủ tinh thần trong khả
năng của mình để hoàn thành nhiệm vụ.
Tôi
không biết quý vị có mất tinh thần hay không. Kinh nghiệm
tôi có được với anh em linh mục ở Hoa Kỳ cho tôi suy
nghĩ rằng mặc cho mọi thứ luôn luôn có niềm vui trong
Tin Mừng. Như ở Ai-len. Lần cuối cùng tôi đến nước
này, tôi bị đánh động bởi số linh mục nói với tôi
rằng toàn thể hàng giáo sỹ đều xuống tinh thần ngoại
trừ họ ! Thật là chính họ khỏe mạnh. Tuy nhiên, ngay
cả khi quý vị gìn giữ niềm vui của bạn trong Chúa.
Thật không vô ích để nghiêng về những thách đố khác
nhau mà chúng ta phải nêu lên và nghiên cứu chung cách
thức đối diện với nó trong niềm vui này. Điều đầu
tiên phải làm hình như là vui thú với cơn khủng hoảng
đụng chạm đến Giáo hội vì nó cho phép chúng ta chia sẻ
cơn khủng hoảng của sự thất vọng đang xuyên qua xã
hội của chúng ta. Chúng ta đau khổ trong sự hiệp thông
với anh em của chúng ta những con người. Oliver Bennet, ở
đại học Warwick, Anh, là tác giả của cuốn sách có tựa
đề Cultural
Pessimism: Narratives of Decline in the Postmodern World
(Bi quan văn hóa: câu chuyện về sự suy tàn trong thế giới
hậu hiện đại). Toàn thể xã hội luôn nghĩ rằng trước
hết “đó đã là thời thuận tiện”. Tuy nhiên tác giả
chỉ ra rằng xã hội phương Tây ngày hôm nay luôn bị
thuyết phục là đang trên đà suy tàn, và nó đang đau
khổ. Bạo lực gia tăng trong các thành phố của chúng ta,
những hệ thống sức khỏe nổ tan, bệnh sida lấn chiếm
sân, lục địa Phi Châu đang trược dài vì quản lý kém,
khủng bố bùng phát khắp nơi và chiến tranh điên dại ở
Irắc. Tất cả đều trôi theo dòng nước.
Thất
vọng theo nghĩa ki-tô giáo không hàm nghĩa rằng mọi người
cảm thấy đau khổ, cho dù số lượng người tự tử gia
tăng khắp nơi trên thế giới, ở Hoa Kỳ và ở Nhật
Bản. Nếu thế giới thất vọng bởi vì họ không còn
tin vào tương lai của nhân loại. Abraham là biểu tượng
của niềm hy vọng của chúng ta. Chúng ta hoàn toàn không
biết rằng ông đã đến Đất Hứa trong niềm vui. Nếu
ông cũng như tôi, ông chắc chắn đang tự hỏi cái gì đó
mà ông rất có thể đã quên trong vali !
Trong
phần chính của đời tôi, niềm hy vọng ki-tô giáo không
dựa trên tuôi thơ ấu thế tục, tín ngưỡng trong tiến
bộ. Mỗi năm có một loạt những phát minh. Sau khi đã
phồng to như thế và nhiều hơn nữa, máy tính ngày càng
chiếm ít đi chỗ của nó. Những nước được giải
phóng khỏi Vương Quốc Anh. Người ta ngay cả bắt đầu
ăn ngon hơn trong các nhà hàng Anh, phải nói là thế ! Ta
có thể thưởng thức món ốc sên và món ếch và khi cha
tôi quay lưng đi, mẹ tôi them tỏi vào món ăn. Vương quốc
Thiên Chúa trở nên gần hơn ! Nhưng từ khi kết thúc
Chiến Tranh Lạnh, niềm tin vào sự tiến bộ đã bốc hơi
mất. Fukuyama đã bảo đảm với chúng ta rằng đó là sự
kết thúc của lịch sử.
Nền
văn hóa của chúng ta có hai câu chuyện dài để kể. Câu
chuyện thứ nhất là câu chuyện về vũ trụ. Những đứa
trẻ khi biết rằng có vụ nổ Big
Bang và sẽ có
cơn lạnh Big
Chill, khi trái
đất và vũ trụ lạnh dần trước khi chết. Chúng ta thật
vô nghĩa. Chúng ta còn chưa sinh ra khi những con khủng long
cuối cùng biến mất và chúng ta biến mất trước một
số loài côn trùng. Sự hiện diện của chúng ta trên trái
đất chẳng thay đổi gì hết với lịch sử này không
tặng cho chúng ta bất cứ niềm hy vọng nào. Câu chuyện
thứ hai với nó hiện nay chúng ta học cách sống là cái
gọi là “cuộc chiến chống khủng bố”. Nhưng phải
nói về loại lịch sử nào đây ? Về thứ chiến thắng
nào chúng ta nói đến ? Luôn nhiều bạo lực hơn, đó là
điều nó hứa hẹn cho chúng ta. Không phải ở đó là một
lịch sử gây thất vọng chăng ?
Có
một niềm ham muốn thực sự thiên đàng nhưng cũng có sự
căm ghét đối với những người tuyên bố là biết con
đường dẫn đến đó. Chính những người này đóng đinh
thế kỷ XX. Hàng chục triệu người đã bị giết chết
nhân danh thiên đường xô viết. Sáu triệu người Do Thái
đã bị tiêu hủy nhân danh thiên đường của người
Aryen. Tháng năm vừa qua, tôi đã đến bảo tang của nạn
diệt chủng Toul Sleng, ở Phnom Penh, một trại trong số
hàng chục trại đã tồn tại ở Cam-bốt. Bất cứ ai
bước chân vào con đường dẫn đến thiên đàng của Pol
Pot đều bị tàn sát. Giám mục Phnom Penh đã nói với tôi
rằng bất cứ ai có bàn tay mềm mại, nói một thứ tiếng
khác tiếng khmer hay đeo kính đều bị bắt. Những tên
cai ngục thậm chí là chẳng còn thời gian mà tiêu hủy
hồ sơ lưu trữ khi trốn chạy. Trung tâm này có dồi dào
hàng trăm ngàn tấm ảnh của tù nhân mà đa số họ còn
rất trẻ. Một số có cái nhìn trống rỗng trong khi một
số khác – bề ngoài rất trẻ - có vẻ rất vui vẻ,
đang hy vọng theo sau nhờ vào nụ cười của họ. Duy nhất
trong số họ đã sống sót. Chính giấc mơ chủ nghĩa tư
bản đã giết chết và làm biến dạng. Thật hợp lý mà
thế này hít thở niềm hy vọng, ở một góc nào đó của
thiên đàng, nhưng căm ghét nhũng ai nói là biết làm sao
đạt đến đó.
Chúng
ta, những người ki-tô hữu, không có la bàn để lèo lái
nhân loại. Chúng ta không thể mở sách Khải huyền và
nói : “Ít là năm tai họa. Chỉ còn hai tai họa nữa là
kết thúc”. Không hơn những người khác, chúng ta chẳng
biết gì về cái nhân loại đang mong đợi trong suốt
những thế kỷ qua và sắp tới. Niềm tin vào sự phát
triển biến mất, chúng phải tái chiếm niềm hy vọng
ki-tô giáo đích thực. Nếu chúng ta đạt được đến đó
thì nhân loại sẽ khám phá ra rằng chúng ta, những người
của Giáo hội, có thể trao tặng cái mà họ đang tìm
kiếm.
Hãy
nhìn vào Bữa Tiệc Ly. Đó là lịch sử thành lập của
chúng ta, lịch sử của Giao Ước mới của Thiên Chúa với
tất cả chúng ta. Điều mâu thuẫn, đó là bữa tiệc ly
đã diễn ra vào lúc mà các môn đệ mất đi đường dây
lịch sử. Rõ ràng là họ đã lên Giêrusalem với đầy hy
vọng. Hình như họ tin rằng Đấng Mêsia sắp cầm đầu
một cuộc nổi dậy chống người La Mã. Như hai môn đệ
trên đường Emmau đã thú nhận với Đức Giêsu : “Còn
chúng tôi đã hy vọng rằng ngài sẽ là đấng giải phóng
Israel !” (Lc 24, 21). Nhưng tất cả đều xụp đổ vào
Bữa Tiệc Ly. Giuđa đã bán Đức Kitô, Phêrô thì chối
ngài và những môn đệ còn lại thì chuẩn bị chạy
trốn.
Đó
là một mâu thuẫn lạ lùng. Câu chuyện của chúng ta đã
diễn ran gay cả khi câu chuyện ấy sắp kết thúc. Cộng
đoàn của chúng ta được sinh ra vào lúc mà nó bị giải
trừ ly tán. Bí tích hy vọng của chúng ta kể lại câu
chuyện về sự đánh mất niềm hy vọng. Mâu thuẫn này
còn đi xa hơn vì những từ ngữ cho phép chúng ta kể lại
câu chuyện này, các tin mừng, đến với chúng ta như cơn
khủng hoảng lần thứ hai. Trong khi Giáo hội trải rộng
trên khắp toàn cõi Đế quốc La Mã và những kitô hữu
bị cầm tù và bách hại, họ mau chóng tìm thấy một câu
chuyện khác để giúp họ sống. “Mọi sự đều tốt
đẹp, các bạn ơi. Đức Giêsu sắp trở lại rồi”.
nhưng Phêrô và Phaolô đã chết, các kitô hữu ở Rôma
phản bội nhau và tất cả xụp đổ. Không ít dấu hiệu
của cuộc trở lại lần thứ hai trong vinh quang của Đức
Kitô ! Nhưng Lời Chúa đã mặc lấy xác phàm bởi Tin
Mừng. chúng ta không bao giờ nghe nói đến trong Tin Mừng
của Máccô hay của Luca, ngay cả của Matthêu và của
Gioan nếu các Tin mừng không bao giờ được tôi luyện
bởi cơn khủng hoảng này.
Mỗi
khi chúng ta tập hợp xung quanh Thánh Thể, chúng ta nhớ
lại rằng niềm hy vọng của chúng ta được thiết lập
trên sự thua cuộc của câu chuyện dài này. Câu chuyện
của Bữa Tiệc Ly cũng bắt nguồn từ cơn khủng hoảng
thứ hai mà nó đã thấy biến mất của một câu chuyện
khác. Như các ki-tô hữu, chúng ta không nên sợ hãi khủng
hoảng mà cộng đoàn chúng ta đang trải qua hiện nay.
Những cơn khủng hoảng, đó là “spécialité de la
maison2”.
Giáo hội cũng xuất phát từ một trong những cơn khủng
hoảng này. Những cơn khủng hoảng đổi mới và làm tươi
trẻ lại Giáo hội. Làm sao cơn khủng hoảng này làm cho
Giáo hội thân yêu của chúng ta trẻ lại ?
Tôi
đã quyết định hôm nay đề cập đến những thách đố
mà chúng ta, những linh mục, phải đối diện trong sự
nhận dạng (identification) của chúng ta trước Giáo hội
phổ quát. Tôi đặc biệt dừng lại trên ba thách đố
khó khăn mà nêu lên. Thứ nhất liên quan đến khoảng
cách tồn tại giữa việc giảng dạy của Giáo hội và
kinh nghiệm của phần lớn người ki-tô hữu với những
người chúng ta đang sống với. Thứ hai đề cập đến
sự chia rẽ trong lòng Giáo hội. Cuối cùng, chúng ta sẽ
xem làm sao sống thời điểm này khi mà Giáo hội bị tác
hại bởi biết bao những vụ tai tiếng đụng chạm đến
cộng đoàn của chúng ta.
Ngã
ba đường
Nếu
nhiều linh mục mất tinh thần, ít là ở Anh, đó là vì
họ không biết rằng họ phải đồng nhất căn tính của
họ với cộng đoàn địa phương của họ hay với Giáo
hội hoàn vũ. Phần lớn các linh mục xác định căn tính
của họ với cộng đoàn địa phương. Ý nghĩa ơn gọi
của chúng ta đến từ cuộc sống mà chúng ta chia sẻ với
Dân Thiên Chúa. Chúng ta chia sẻ cuộc đấu tranh và chiến
thắng của họ, đồng hành với thất bại của họ và
chúng ta nuôi dưỡng đức tin của họ. lời giảng của
chúng ta không phục vụ cho việc bán hàng hay tuyên truyền
những tư tưởng cá nhân. Chúng ta được kêu gọi để
công bố Tin Mừng và giáo huấn của Giáo hội. Tuy nhiên
chúng ta xác nhận rằng đôi khi có một hố thẳm thực
sự giữa điều chúng ta được xem như phải giảng dạy,
nhất là trong khuôn khổ của luân lý, và kinh nghiệm sống
bởi Dân Thiên Chúa để vì họ mà lời của chúng ta có
thể ra như là không thể hiểu được và không thực tế.
Các tín hữu của chúng ta đôi khi có vẻ bối rối.
Hình
như có nhiều trường hợp này ở Anh hơn là ở Hoa Kỳ.
Quả thật quý vị còn sống trong một đất nước còn
rất là nhiền người tin, ít là trên bình diện thực
hành, trong khi nước Anh là một trong những nước tục
hóa nhất trên thế giới. nhưng kinh nghiệm của tôi chứng
minh rằng ngay cả những người tín hữu công giáo thực
hành cũng khó mà hiểu được giáo huấn luân lý của
Giáo Hội, nhất là về vấn đề tính dục. Ngày nay, đa
số người nam và người nữ không sinh hoạt tình dục
trong khuôn khổ của hôn nhân với mục đích sinh sản.
phần lớn người trẻ mà tôi quen biết thì hoặc sống
chung như vợ chồng và dùng các phương tiện ngừa thai,
hoặc ly dị và tái hôn, hoặc là người đồng tính.
Làm
sao sống thân phận linh mục của chúng ta với Dân của
Chúa, làm sao xây dựng một cộng đoàn khi ta xem chúng ta
như những đại diện của một cái nhìn đạo đức mà
người ta khó mà áp dụng, xem như là loại bỏ ? Lúc này
tôi không nghiên về chân lý của giáo huấn này nhưng về
sự không hiểu biết hay sự bất khả bên ngoài đối với
một số người khi áp dụng diễn từ của Giáo hội.
Chúng ta phải lượng giá giáo huấn đạo đức của Giáo
hội và tin tưởng vào nó, không gì ngăn cản chúng ta
khỏi xuống tinh thần bởi vực thẳm tồn tại giữa
thông điệp mà chúng ta phải tuyên bố và cuộc sống mà
những người này đang sống với họ và vì họ mà chúng
ta sống. Hãy thẳng thắn : ở chỗ của họ, chúng ta cũng
sẽ bối rối như họ.
Cộng
đoàn của chúng ta tụ họp xung quanh Thánh Thể, bí tích
của sự hiệp thông, trong khi nhiều người cảm thấy bị
loại ra bởi vì họ sống trong “tình trạng không bình
thường” như người ta vẫn gọi. Nhưng chính họ, về
mặt thống kê, đang sống cách hoàn toàn bình thường !
Hiển nhiên có “giải pháp mục vụ”, giải pháp mà
nhiều người áp dụng nhằm trở lại hàng ngũ mà không
thực sự tin tưởng. Nhưng can thiệp theo số phận thì
đáng thất vọng và trở về từ chối đối diện với
vấn đề mà chúng ta quan tâm đến ngày hôm nay.
Hố
thẳm giữa giáo huấn của Giáo hội và kinh nghiệm hàng
ngày của Dân Chúa không ngừng bị đào sâu them kể từ
thế kỷ XVII. Vào thời Trung Cổ, thần học luân lý được
xem như sự khôn ngoan thực tế, không tách rời khỏi cuộc
sống hàng ngày. Nhưng sau thời Cải Cách và những cuộc
tranh cãi cay đắng về tôn giáo của Cuộc Chiến Tranh
Trăm Năm, một nhu cầu hiểu biết được cảm thấy khắp
nơi. Sau tất cả những cuộc chiến tranh tôn giáo, người
ta muốn rằng họ được dạy bảo điều gì đó chắc
chắn, được thiết lập trên những nguyên tắc trừu
tượng không để lại chỗ nào nghi ngờ. từ đó, hố
thẳm không ngừng được đào sâu hơn, và ngày hôm nay
giáo huấn tuyệt vời của chúng ta thường ở cách xa
hàng trăm dặm so với thực tế mà cộng đoàn chúng ta
đang sống.
Làm
sao chúng ta sống trong không gian giữa viễn tượng luân
lý của Giáo hội và cuộc sống hàng ngày của những
người tín hữu của chúng ta mà không mất tinh thần ?
Làm sao chính chúng ta có thể tình trạng này trong niềm
vui ? Cha Tony Philpot, linh mục triều nổi tiếng ở Anh, nhớ
lại đã dự ở Cambridge, cách nay vài năm, một buổi
thuyết trình của đức Hồng y Ratzinger. Phải nói đó là
bài trình bày xuất sắc về các nguyên tắc luân lý
chung. Nhưng một khi trở về với giáo xứ của mình,
trước các tín hữu đang đấu tranh hàng ngày trong các
thành phố của họ, cha Philpot nhận ra rằng diễn từ của
Hồng y Ratzinger chẳng có ý nghĩa chi hết. Đối với
Tony, các linh mục được kêu gọi để sống giữa cái
chung và cái đặc thù, không gian trung gian giữa diễn từ
trừu tượng và cuộc sống cụ thể. “Không thoải mái
để chiếm giữ không gian giữa cái chung và cái đặc
thù. Thực sự là một ngã ba đường. Chẳng thoải mái
chút nào khi thuộc về một thế giới của sự chính
thống và mất biết bao nhiêu là thời gian và tốn biết
bao là năng lượng với những người chẳng thuộc về
chúng ta. Tôi xin được nói về những bạn trẻ đang
chuẩn bị trở thành linh mục triều mà họ đã thú nhận
sống ơn gọi của họ trong đau đớn của ngã ba đường
này, phải có một trái tim bị chia sẻ. Nếu họ có kinh
nghiệm của sự đau đớn này, thì họ sẽ là những linh
mục tốt lành.”
Đây
là một khởi đầu tốt: nhìn nhận rằng chúng ta thuộc
về không giant rung gian này. Ngã ba đường là lương thực
hàng ngày của chúng ta. Tôi tự cho phép đề nghị một
giai đoạn thứ hai. Lời Chúa mặc lấy xác phàm là trung
tâm của đức tin chúng ta. Lời Chúa không bao giờ có thể
trừu tượng, chung chung và xa cách. Lời của Tin Mừng tái
sinh không ngừng, dù là ở Anh, ở Braxin hay ở Rôma. Với
tư cách là những linh mục, chúng ta không thể cung cấp
một lời trừu tượng. chúng ta tìm cách làm tái sinh lời
của Tin Mừng trong cộng đoàn nơi chúng ta đang sống,
bằng ngôn ngữ riêng của cộng đoàn, với những cấu
trúc xã hội riêng của cộng đoàn đó, những thắng lợi
và thất bại của cộng đoàn, sự giàu có và khó nghèo
của cộng đoàn. Linh mục thế nên là bà đỡ thực sự.
ngài lắng nghe Tin Mừng và các giáo huấn của Giáo hội
và làm cho nó từ ngay nền văn hóa của cộng đoàn mình
và với nó. Có thể thấy làm sao Lời của Chúa có thể
sinh ra trong cộng đoàn của ngài, ở đây và bây giờ,
như một trẻ thơ, với sự mới mẻ bất tận của Thiên
Chúa.
Vực
thẳm giữa giáo huấn của Giáo hội với cuộc sống hàng
ngày của các tín hữu quả thực là đau đớn. Và chính
tại đó mà chúng ta được kêu gọi, trái tim chia sẻ.
Nhưng chúng ta vẫn ở lại bên cạnh cộng đoàn của
chúng ta để một lời mới thấy được sinh ra, để bi
kịch của sự nhập thể lại được tái hiện nơi chúng
ta và xuyên qua chúng ta. Vì thế, mà chúng ta phải xác
định căn tính của chúng ta nơi những con người đang
cảm thấy bị tách ly khỏi Giáo hội vì “tình trạng
không bình thường” của họ. Hãy đặt chúng ta trong bộ
da của họ, hãy lắng nghe với đôi tai của họ, hãy nhìn
với con mắt của họ, hãy cảm nhận điều mà họ cảm
nhận. Một cách nào đó hãy là họ. Chúng ta khám phá với
họ làm sao rao giảng Lời Chúa và giáo huấn của Giáo
hội.
Với
thánh Tôma Aquinô, có một mối liên hệ cực kỳ chặt
chẽ giữa giáo huấn và tình bạn. Chỉ Thiên Chúa mới
có thể dạy dỗ theo
nghĩa chặt của từ.
Chính ân sủng của Chúa trong lòng chúng ta dạy dỗ. Thánh
Tôma đặc biệt đánh giá cao bản văn giải thích rằng
chỉ có một thầy, ở trên trời. ngài cũng thích bản
văn nói rằng chỉ có một thầy duy nhất và không phải
người sống ở Rôma ! Ngài thường tham chiếu bản văn
này. Nhưng đối với thánh Tôma, các bạn của ngài cũng
có khả năng dạy dỗ vì họ đối với tôi
là một tôi khác. Các bạn bè dạy chúng ta từ bên trong,
có thể nói như thế.
Vực
thẳm giữa trừu tượng và đặc thù này thì rất là
nhức nhối, nhưng có thể là cơn đau của sự sinh con. Và
chúng ta biết rằng niềm vui tiếp nối cơn đau. “Người
phụ nữ sinh con trong cơn đau bởi vì giờ của bà đã
đến. Nhưng khi đứa trẻ được sinh ra, bà không còn nhớ
những bồn chồn lo sợ nữa, trong niềm vui mà bà cảm
nghiệm được vì một con người được sinh ra” (Ga 16,
21). Chúng ta là những bà đỡ cho sự sinh ra của Lời
Chúa trong thế giới mà chúng ta đang sống.
Nếu
chúng ta muốn sống sót cho dù có ngã ba đường này,
chúng ta vẫn cần đến lẫn nhau, chúng ta cần đến sự
trợ giúp của những anh em linh mục khác. Chúng ta thuộc
về Giáo Hội hoàn vũ và chúng ta là những đại diện
của Giáo hội. chúng ta thuộc về cộng đoàn địa phương
và chúng ta cũng chia sẻ sự sống của cộng đoàn này.
Sức hấp dẫn hai mặt này có thể biến chúng ta thành
những mảnh vụn nếu chúng ta không chú ý đến nó. Nói
“vâng” theo lệnh của giáo hội, là trở nên phát ngôn
viên của cơ chế này ; nói “không”, là nổi loạn theo
cách thức thường xuyên chống lại Giáo quyền. thực
hiện sự chọn lựa duy nhất sẽ phá hủy chúng ta như
những người trung gian và những nữ hộ sinh.
Để
có thể chịu được những áp lực này, chúng ta những
linh mục, cần phải được trợ đỡ bởi sự liên đới
mạnh mẽ. ta có thể tưởng tượng ra rằng NFPC là tổ
chức nghiệp đoàn các nữ hộ sinh của giáo hội. Điều
đó trở lại giải phóng khỏi chủ nghĩa cá nhân dai dẳng
là đặc tính thường thấy ở nơi các linh mục. “Tôi
là cha xứ của giáo xứ này; chính tôi là người điều
hành và tôi muốn rằng không ai khác lẫn lộn trong việc
này, không có linh mục nào ở xung quanh, không giám mục,
lẫn Rôma”. Tinh huynh đệ của chúng ta đối với anh em
linh mục bỏ neo sâu trong điều mà chúng ta là và nó nâng
đỡ chúng ta trong sự thuộc về kép vào dòng tu và vào
Giáo hội hoàn vũ. Như Đức Gioan Phaolô II nói rất rõ
trong tông huấn Pastores
dabo vobis: “Thừa
tác vụ được truyền chức triệt để thuộc về ‘bản
chất cộng đoàn’ và chỉ có thể hoàn thành như ‘công
việc chung cộng đoàn’” (n.17). Trước, khi em bé chuẩn
bị sinh ra, những người mẹ của ngôi làng đến chung
quanh giường của bà mẹ tương lai để giúp đỡ đẻ.
Chúng ta cũng cần giúp đỡ nhau để nhập thể Lời Chúa
bây giờ và ngay chính nơi đây.
Điều
này cũng bao hàm rằng chúng ta đối xử với giám mục
như là một người anh em. Trong sắc lệnh Presbyterorum
ordinis, ta có thể
đọc thấy rằng giám mục phải xem các linh mục trong
giáo phận của mình như anh em và như những người bạn.
Nhưng một số linh mục không giữ điều này vì nó bao
hàm một sự gần gũi với ngài. Một số muốn là giám
mục, số khác muốn tránh. Cuối cùng số khác thấy nơi
ngài một người cha mà vai trò của ngài là giải quyết
những vấn đề của họ và trút trách nhiệm cho ngài
trong trường hợp khó khăn. Theo Tony Philpot: “Nếu Công
đồng tuyên bố rằng giám mục phải xem các linh mục của
mình như anh em và như bạn bè, thì các linh mục chính họ
cũng phải làm như giám mục. Có anh em và bạn bè, đó là
đã nhận ra những giới hạn riêng, chấp nhận rằng
những sai lầm được cho phép và hòa giải phải luôn
luôn khả dĩ. Đó là mối quan hệ với nghĩa kép”.
Sự
chia rẽ
Nguyên
do thứ hai của sự xuống tinh thần thực sự nơi các
linh mục chắc chắn đến từ sự chia rẽ sâu sắc của
Giáo hội. Và tôi có ấn tượng rằng Mỹ châu, Bắc Mỹ
và Nam Mỹ, phải đặc biệt nêu cao thách đố này, hình
như hơn hẳn những nơi khác trên thế giới. Đâu là
những hậu quả xuyên Đại Tây Dương của nó ? Hình như
đến lúc trở về với “Vương Quốc Anh” ?
Chúng
ta, những linh mục, được kêu gọi vào trong một tổ ấm
của sự hiệp nhất. Nhưng làm sao đạt đến đó được
nếu chính Giáo hội bị chia rẽ bởi sự sợ hãi nghi ngờ
sâu sắc và lẫn nhau ? Chúng ta đau đớn vì chính sách
của những chính trị gia mà thánh Phaolô căm ghét như
trong Giáo hội ở Corintô, “Tôi thuộc về phía Phêrô”,
“Tôi ủng hộ Phaolô” ; “Tôi ở phía hồng y Ratzinger”
; “Tôi ở phía Hans Küng” ; “Tôi ủng hộ thần học
giải phóng” ; “Tôi ủng hộ von Balthasar”. Sự chia rẽ
này hơn cả một sự bất đồng trí thức đơn thuần. Đó
là cuộc đấu tranh đáng ghét chống lại quyền lực. Làm
sao chúng ta có thể rao giảng Lời Chúa khi mà mỗi câu
của chúng ta có thể được phân tích tỉ mỉ, khi chính
các giám mục sống trong nỗi sợ hãi mà sự sai lạc có
thể đến tai của Bộ Giáo lý Đức tin ? Những người
Pha-ri-sêu xét nét tỉ mỉ những từ ngữ của Đức Giêsu
để đánh bẫy người. Phải chăng đôi khi chúng ta cũng
sống trong chính hoàn cảnh này ngày hôm nay trong lòng Giáo
hội ?
Thể
chế của chúng ta, dĩ nhiên, luôn có những chia rẽ như
vậy, kể từ sự bất đồng giữa Phê-rô và Phaolô ở
An-ti-ô-kia. Lịch sử Giáo hội được gieo vào những cuộc
đấu tranh giữa các hoàng đế và Giáo hoàng. Các giáo
hoàng và phản-giáo-hoàng, chưa nói đến những người
gallican và bảo thủ quá khích (ultramontain), giữa người
theo thuyết tân thời và người truyền thống, xem như là
giữa dòng Tên và dòng Đa Minh ! Không kém phần gây nản
lòng. Ngày nay chúng ta tranh luận về bất cứ điều gì
và không có chi là ngoại lệ. Điều mới mẻ, theo tôi,
đó là chúng ta bất khả tranh luận với phía đối lập.
Chúng ta thích nói chuyện về nhau hơn là với nhau.
Bữa
Tiệc Ly cũng nhắc cho chúng ta làm sao sống thời khắc
này. Nó nhắc cho chúng ta không chỉ sự mất niềm hy vọng
mà còn về sự phân rã của cộng đoàn. Thời điểm của
sự tố cáo lẫn nhau. “Con sẽ chết với thầy, không,
con sẽ không chối thầy”. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã bị
bán, phản bội và bị chối. phần lớn các môn đệ sẵn
sàng vội vã bỏ nơi họ sống do sợ hãi.
Niềm
hy vọng của chúng ta ngự tại việc Đức Giêsu không còn
được vây quanh bởi nhóm bạn đồng bàn trong bữa tối
với cùng một cảm xúc. Cộng đoàn này không được
thiết lập trên một viện tượng chia sẻ. họ không chia
sẻ cùng ý tưởng trong khoảnh khắc ngắn ngủi. Một
cộng đoàn của những con người có cùng cảm xúc không
phải là bí tích của Vương Quốc nhưng chỉ là một bí
tích của chính nó. Chúng ta là dấu chỉ của Vương quốc
cách rõ rệt vì sự hiệp nhất của chúng ta không phải
là tình cảm mà là bí tích. Đó là việc đón tiếp người
xa lạ, xem như kẻ thù, mà nó làm cho chúng ta thành dấu
chỉ.
Chính
ở bên châu Phi mà tôi đã nắm bắt được vài ý nghĩa
của điều này. Tôi nhớ đã trải qua vài ngày trên đường
của nước Burundi, cùng với hai anh em. Một người tên là
Emmanuel, anh là phụ tá cho tôi trong chuyến hành trình ở
Phi Châu và người gốc Hutu. Người kia, bề trên địa
phương, tên là Loboire và là người Tutsi. Chính vào thời
khắc khi mà cả hai sắc tộc đang tàn sát lẫn nhau. Đất
nước hầu như tan hoang. Ta nhận ra đó đây những nhóm
lính hay phiến quân. Có vài chiếc xe hơi. Trong những trại
của người Tutsi, Liboire và tôi ở đó để bảo vệ
Emmanuel. Trong trai Hutu, lại đến lượt Emmanuel bảo vệ
Liboire. Mỗi tối, chúng tôi cùng nhau cử hành Thánh Lễ.
Emmanuel
và Liboire thuộc về những nhóm mà người ta căm thù nhau
và người ta chỉ thở được khi nhóm kia biến đi. Căn
tính bộ lạc ở Phi Châu bén rễ cách sâu sắc. Nhưng mỗi
Thánh Lễ là một dạng của cái chết bí tích. Đó là sự
xúc động cao độ mang tính bí tích của một căn tính
cho đi, một sự liên đới hiện tại đầy tính bí tích.
Những
liên hệ càng mạnh mẽ, thì càng khó mà ôm lấy và chấp
nhận những người khác với ta. Những sự bất đồng
luôn bùng nổ mạnh hơn trong gia đình. Chúng ta chấp nhận
rằng một người xa lạ khác nhưng không phải ai đó cùng
máu huyết, cũng như cùng dòng họ, cùng tôn giáo. Micheal
Ignatieff kể lại câu chuyện đã xảy ra trong cuộc chiến
tranh Nam Tư vào năm 1993. Trên mặt trận, ông hỏi một
người Serbe tại sao người Croate lại rất khác ta. Người
này rút gói thuốc trong túi ra và trả lời ông : “Ông
có thấy những điếu thuốc này ? Chúng là của Serbe. Bên
kia, người ta hút thuốc lá Croate.” Ignatieff bẻ lại
người này rằng đó cũng cùng loại thuốc. và người
Serbe này nhún vai nói với ông trong khi lau chùi khẩu
Zastovo : “Các ông là người ngoại quốc, các ông chẳng
hiểu chi hết.” Nhưng câu hỏi làm ông đau xót và vài
phút sau ông hạ vũ khí và đưa ra lời giải thích : “Nghe
đây, những người Croates nghĩ rằng họ có giá hơn chúng
tôi, rằng họ là những người Âu châu sang trọng và
kiểu cách. Sự thực đó là tất cả chúng tôi chỉ là
thứ rác rưởi của Balkan.” Người Croate thì khác bởi
vì họ không chấp nhận trở nên như người khác!
Ơn
gọi linh mục của chúng ta là quy tụ những người nghĩ
như chúng ta và những người nghĩ khác chúng ta. Ở đâu
có thể thực hiện điều này ? Mỗi trường phái ý thức
hệ đều có trường đào tạo nơi chân lý thuần túy
được giảng dạy, với cùng những ấn bản của nó
(Communio
và Concilium),
những tập san báo chí (National
Catholic Report),
các phân khoa đại học, xem như các giáo phận của nó.
Tồn tại chăng một nơi giữa lòng Giáo hội nơi chúng ta
quên đi những giao thông hào để chúng ta noi năng ? Có
chăng một cuộc tìm kiếm chân lý chung ? có quá nhiều
thinh lặng trong Giáo hội. tuy nhiên tôi đã tham dự vào
nhiều thượng hội đồng các giám mục ở Rôma, và ngay
tại đó có rất ít sự đối thoại thực sự. mỗi người
đến với bài phát biểu của mình đã dọn sẵn và đọc
nó mà không cần quan tâm đến những gì người khác đọc.
Hơn
là đi làm khó cho bề trên, hãy tự hỏi xem đâu là không
gian chúng ta tự giành cho sự tự do đối thoại trong từng
giáo phận, trong mỗi giáo hạt, mỗi giáo xứ của chúng
ta. Trong suốt Thế Chiến II, những người lính Anh và
lính Đức gặp nhau vào đêm Noel, trên một mảnh đất
trung lập để cùng hát lên những bài thánh ca Giáng sinh.
Có một chỗ nào, có giây phút nào chúng ta làm biến đi
những chia rẽ về mặt ý thức hệ để nói với và lắng
nghe nhau ? Phải chăng là trường hợp ngày hôm nay giữa
lòng buổi họp này hay tất cả chúng ta cùng theo đúng
hàng ngũ của mối suy tư ? Chính Hiệp hội toàn quốc các
tu sỹ đã bị chia tách làm đôi ngay tại nước này.
Trong
bầu khí của sự chia rẽ và của sự phân cực trong Giáo
hội, còn hữu ích chăng để cố gắng ? Những người có
quyền chắc chắn xem cuộc đối thoại hữu ích này trong
khi những người không có quyền thất vọng lắng nghe.
Chúng ta hãy trở lại với Bữa Tiệc Ly.
Bữa
Tiệc Ly làm nổi bật mối xung đột quyền lực. trước
hết, quyền lực của Đức Giêsu, quyền lực của dấu
chỉ, rồi quyền của sức mạnh thô bạo của những
người lính đến bắt Đức Giêsu. Trong Tin Mừng, thánh
Gioan mô tả cho chúng ta sự gia tăng sức mạnh của cuộc
xung đốt này. Trong khi Đức Giêsu hoàn tất những dấu
chĩ của ngài, từ tiệc cưới Cana đến phục sinh của
Lazare, thì sự chống đối ngày càng lớn. quyền lực của
những dấu chỉ nơi ngài không phải là mà thuật. Đức
Giêsu không có gì để sánh với Phù thủy Merlin. Những
dấu chỉ của ngài thì mạnh mẽ vì chúng nói và có một
ý nghĩa. Đó là những dấu chỉ của Lời đã mặc lấy
xác phàm.
Cuộc
gặp gỡ của Đức Giêsu và Philatô đã đi đến đỉnh
điểm. Philatô nói với Đức Ki-tô: “Ông không biết
rằng tôi có quyền đóng đinh ông sao ?” Nhưng Đức
Giêsu được thiết lập trên sức mạnh của chân lý và
của ý nghĩa. Ngài trả lời Philatô: “Tôi đến thế
gian này để làm chứng cho sự thật. mọi người thuộc
về chân lý thì nghe tiếng tôi.” Và Philatô tiếp lời:
“Sự thật là gì?” mà không chờ câu trả lời. Ông
không cần nó. Ông đã có lính của ông.
Mỗi
thánh lễ là sự tái hiện lại sự đối đầu này của
hai loại quyền lực. Nó là dấu chỉ mà chúng ta tin rằng
chân lý thì mạnh hơn bạo lực. “Ánh sáng chiếu rọi
trong bóng tối và bóng tối không thể dập tắt.” Vì
thế chúng ta, những linh mục, có can đảm tiếp tục tìm
kiếm sự thật và ý nghĩa, ngay cả khi điều đó có vẻ
không hợp thời. Theo Hồng y Suhard, “một trong những
việc phục vụ đầu tiên mà người linh mục làm cho thế
gian đó là công bố sự thật”. Đó là điều đức
thánh cha mời gọi chúng ta thực hiện trong Veritatis
splendor (Ánh rạng
ngời chân lý). Trong một thế giới khao khát chân lý
nhưng lại nghi ngờ về những khả năng của nó, đức
thánh cha mời chúng ta tìm kiếm chân lý với lòng can đảm.
Nhật
ký của Yves Congar từ 1946 – 1956, xuất bản năm 2000, là
một trong những cuốn sách đau đớn nhất mà nó gây cho
tôi khi đọc. Con người này có trí thông minh kiệt xuất,
có sự nhạy cảm cực kỳ và có một danh dự ngoại hạng
đã cảm thấy bị đóng đinh bởi Tòa Thánh. Ngài đã rút
lui vào thinh lặng, khiêm nhường, và tệ hại nhất cho
một người Pháp, là bị lưu đày qua Anh. Làm sao ngài có
thể chịu đựng được thời ký đen tối này ? Khi tin
rằng sự thật sẽ chiến thắng khải hoàn. Vào năm 1954,
giữa cơn khủng hoảng, ngài viết: “Nói sự thật. Với
sự cẩn thận, không gây tai tiếng vô ích hay khiêu khích.
Nhưng ở lại – và càng ngày càng trở nên – nhân chứng
đích thực và thuần túy của điều là sự thật”. Điều
này đòi hỏi nơi ngài sự kiên trì to lớn, và theo thánh
Tôma Aquinô, lòng kiên trì ở trung tâm của đức cậy,
niềm hy vọng. Chúng ta cần đến sức chịu đựng kiên
trì của người chắc chắn rằng chân lý sẽ kết thúc
bằng chiến thắng.
Tôi
tin rằng nói lên sự thật đòi hỏi hai điều từ phía
chúng ta : lòng can đảm và khiêm nhường. Lòng can đảm
vì chân lý không phải lúc nào cũng được chào đón.
Giáo hội sợ tranh luận. Hơn nữa, nó có cảm giác rằng
nếu những bất đồng thông qua đó mà bị đưa ra công
luận thì điều đó có nguy cơ gây khó khăn cho quyền
hành của Giáo hội và chúng ta trở nên bất chính với
Giáo hội. Nhưng về vấn đề này, tôi nghĩ rằng không
gì làm suy yếu quyền hành của Giáo hội mà việc này
không nói lên điều mà chúng ta có trong lòng. Không gì
còn có thể làm sói mòn sự khả tín của những lời nói
của chúng ta mà việc nhát đảm và sợ hãi phạm lỗi.
Đâu là parrhesia3,
tiếng nói can đảm của các Tông đồ ?
Nhưng
nói lên sự thật cũng đòi hỏi chúng ta một lòng khiêm
nhường to lớn. Quả thật, chúng ta không thể diễn tả
như những người đối lập, không hiểu biết và bè
phái, nhưng là những người có chân lý trọn vẹn. Tất
cả những gì chúng ta có thể làm đó là đóng góp cho
cuộc tranh luận, khi hy vọng rằng chân lý sẽ hoàn thành
bởi ra đi và có thể chúng ta sai lầm. Chúng ta nói cách
tự do, không bởi vì chúng ta có câu trả lời cho chững
câu hỏi mà chúng ta đặt ra nhưng để đóng góp cho việc
tìm kiếm câu trả lời. Chính bởi vì chúng ta tin rằng
Thánh Thần đã ngự xuống trên Giáo Hội mà chúng ta
không sợ sai lầm. Dân Thiên Chúa không dễ dàng để cho
bị lạc lối trên đường chính nẻo ngay. Vả lại tôi
sẵn sàng đánh cá rằng cho dù chúng ta sai lầm thì nó
cũng không đưa Giáo hội đến chỗ thất bại. Chúng ta
không thể tìm kiếm chân lý mà nếu chúng ta dám giỡn
với những tư tưởng, rằng nếu chúng ta đưa ra các giả
thuyết diên khùng để thấy ở đâu nó dẫn chúng ta đến,
rằng chúng ta đưa ra những dự án và thử thời vận của
chúng ta. Nếu chúng ta không vui thú về sự tự do của
chúng ta (trong mọi nghĩa của từ) thì chúng ta không bao
giờ đến gần được với mầu nhiệm Thiên Chúa.
Những
tai tiếng
Tôi
xin được kết thúc bằng đôi lời về những tai tiếng
mà chúng làm nhục Giáo hội trong những năm vừa qua. Vì
chúng, mà các linh mục ngày hôm nay khó mà cảm thấy mình
là người đem tin vui. Quý vị biết rõ hơn tôi về những
tàn phá mà chúng gây ra : đau khổ của các nạn nhân lạm
dụng tình dục ; sự nhục nhã của các linh mục nói
chung ; nỗi đau của người giáo dân, khi sững sờ trước
sự phản bội niềm tin của họ. Mà còn là bộ mặt giận
dữ theo cách thức của một số giám mục đã xử vấn
đề này và xấu hổ thấy Giáo hội bị các phương tiện
truyền thông đưa xuống hàng thứ yếu. Điều đó, quả
thực, đó là cơn khủng hoảng.
Ít
là nó đã không trầm trọng như Bữa Tiệc Ly ! Đức
Giêsu ngồi xung quanh bàn với Giuđa kẻ phản bội, và
Phêrô, viên đá xây lên Giáo hội và kẻ sẽ chối thầy
mình đến 3 lần. Ngài quy tụ các môn đệ của ngài
những người gần như tất cả đều vắt giò lên cổ mà
chạy. Đó là cơn khủng hoảng đã làm nảy sinh ra Giáo
Hội, cơn khủng hoảng mà chúng ta cử hành hàng ngày. Hãy
nhớ lại : chúng ta không có lý do gì để sợ những cơn
khủng hoảng vì chúng đổi mới chúng ta.
Đức
Giêsu đã bị trao nộp. Vào lúc cử hành Thánh Thể, chúng
ta nhớ lại cách thức mà ngài đã chấp nhận sự phản
bội này để làm thành sự cho đi. Ngài đã tự do chấp
nhận hành vi tàn ác này và đã chuyển nó thành thời
khắc của ân sủng. Nạn nhân thụ động đã phản ứng
cách sáng tạo. Quý vị chiếm lấy thân thể của tôi để
cho đi. Và quý vị đã mặc cả nó không hơn 30 đồng
bạc. Nhưng mà nghe đây : đây là mình thầy, giao nộp vì
anh em.
Niềm
tin bào chúng ta nắm lấy thời điểm của sự phản bội
và xấu hổ này. Được trợ giúp bởi tính sáng tạo vô
hạn của Thiên Chúa, chúng ta có thể tạo nên thời điểm
của ân sủng và hồng ân. Nếu chúng ta để cho Thiên
Chúa đặt tay của người đặt trên Giáo hội của người,
thì nó sẽ tái xuất đẹp hơn (repartira de plus belle). Một
hôm, tôi đi dạo trên bờ đê chắn sóng ở phía bắc xứ
Well trước khi nói chuyện với Liên hiệp các bà mẹ công
giáo, thình lình tôi bị một đống nghiêu rơi xuống đầu.
Từ trên trời, những con mòng biển đã thả từ trên cao
những con nghiêu sò này để làm vỡ vỏ cứng và đến
ăn phần bên trong ngon lành của loài thân mềm. Đó chính
xác điều Thiên Chúa thực hiện vào thời khủng hoảng:
ngài đánh vỡ vỏ cứng của sự dầy đủ của chúng ta
và của thói ngạo nghễ của chúng ta hầu đạt đến
phần mềm dịu nhất, dễ tổn thương nhất của cuộc
đời chúng ta. Vì thế chúng ta phải sống cơn khủng
hoảng này trong niềm vui.
Làm
sao chúng ta đổi mới cơ chế của chúng ta ? Khi đưa đến
Giáo hội chắc chắn cho người trẻ, một hải cảng yên
tĩnh trong một thế giới của những kẻ cướp. Khi đưa
đến một Giáo hội khiêm nhường hơn nó được kể vào
số những người không tuân thủ, như thể nó là Thiên
Chúa của nó. Một Giáo hội nơi rõ ràng nói rằng Đức
Ki-tô đã đến tìm kiếm những người tội lỗi và không
phải những người công chính, và nhiệm vụ của ngài đã
thành công thực sự! Khi làm tái sinh một Giáo hội ít
giáo sỹ tính hơn và bí mật, một Giáo hội trong sáng
hơn nơi người giáo dân thấy được nhìn nhận đầy đủ
phẩm giá người ki-tô hữu được rửa tội của họ.
Cơn khủng hoảng này có thể đánh dấu sự kết thúc của
một Giáo hội được nhận ra như một công ty đa quốc
gia, xa cách và quan liêu. Giáo hội có thể trở thành một
cộng đoàn của những môn đệ Chúa Giêsu.
Để
được như thế, chúng ta phải nắm được thời khắc
này với tất cả sức mạnh sáng tạo của Đức Giêsu.
Này là mình thầy trao nộp vì anh em. Ngài biến đổi thời
khắc của sự phân tán và tan rã này thành bí tích của
Giao Ước Mới, một sự hiệp thông mới. Đừng sợ hãi,
không ai làm cho chúng ta sợ hãi, nhất là không phải các
phương tiện truyền thông. Đức Giêsu nắm lấy bởi
những người phản bội, được họ vây quanh và từ họ
mà làm sinh ra Giáo hội của ngài. Nếu một ngày nào đó
chúng ta nghi ngờ một linh mục đã phản bội ơn gọi của
người này, liệu chúng ta có cùng một sự can đảm như
vậy ? Chúng ta không thể chắc chắn là không có gì phải
làm với họ. Tôi nghe thấy nói đến một giáo phận kia
từ chối toàn bộ trách nhiệm trong sự lầm lạc của
một số linh mục dưới lý do họ là những “nhân vị
độc lập”. Nhưng Đức Giêsu không bao giờ xem Phêrô
như “người độc lập”. Ngài không bao giờ chối bỏ
Phêrô. Mà trái lại chính Phêrô thốt lên : “Tôi không
biết ông này”. Chúng ta đã phải đối diện với tai
tiếng kinh khủng của các linh mục ấu dâm. Liệu ngày
hôm nay chúng ta có dám đối diện với tái tiếng khủng
khiếp này, chính tin mừng, muốn chúng ta tha thứ cho họ,
chúng ta ôm lấy họ và chúng ta nhìn nhận họ như anh em
của chúng ta ?
Vậy,
mặc cho mọi khó khăn hiện tại, chúng ta có thể là
người đem tin vui. Tôi chắc là phần lớn trong quý vị
đã là rồi. Tôi cố gắng chỉ cho quý vị thấy làm sao
trong ba lãnh vực khác nhau, khoảnh khắc hiện tại có thể
là thời khắc của hồng ân. Hố thẳm đau đớn giữa
giáo huấn của Giáo hội và kinh nghiệm sống của nhiều
người công giáo có thể cho phép sinh ra một Lời Mới
mặc lấy xác phàm. Sự chia rẽ trong Giáo hội có thể
đưa đến một thời điểm mới của sự thật cho phép
tái xây dựng căn nhà chung của chúng ta. Để, chẳng có
chi phải sợ hãi và hãy để cho ân sủng sáng tạo của
Thiên Chúa hoạt động để những tai tiếng được sống
như một thời điểm của sự đổi mới.
1
Bản gốc tiếng anh đăng trên Origins
ngày 27/03/2004. Bản dịch tiếng Pháp do Caroline
Lecerf-Pajot cho Documentation
Catholique, no2322,
17/10/2004.
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire