vendredi 10 avril 2015

linh mục và cơn khủng hoảng thất vọng giữa lòng giáo hội


Từ ngày 11 đến 14 tháng tư 2004 đã diễn ra tại Atlanta, bang Georgia (Hoa Kỳ), hội nghị của National Federation of Priests’ Councils - NFPC. Cha Timothy Radcliffe, nguyên BTTQ Dòng Đa Minh, đã có buổi thuyết trình và tại đây cha đã trình bày về cơn khủng hoảng niềm tin làm xáo động Giáo hội và sự hoảng loạn của một số linh mục. Chúng tôi xin công bố bản văn của buổi thuyết trình này1 :

Làm sao trở thành người mang tin vui ?” Đó là chủ đề mà tôi được mời trình bày. Điều này giả thiết rằng chính chúng ta bị một niềm vui nào đó đụng chạm tới. Nếu quý vị u sầu và buồn bã, thì liệu ai sẽ tin rằng Phúc Âm là tin mừng ? Nietzsche nói rằng các môn đệ của Đức Giêsu phải có vẻ “được cứu độ” hơn chút nữa.
Nhiều người có lý do giải thích rằng chúng ta có thể bị xuống tinh thần. Giáo hội đang đi qua cơn khủng hoảng thất vọng. Ở Hoa Kỳ hơn bất cứ nơi nào khác, hình như, các người công giáo tỏ ra bị chia rẽ sâu sắc. Phần lớn các giáo phận và các dòng tu chịu đau khổ vì thiếu ơn gọi. Nhiều linh mục hồi tục, chưa nói đến các vu lăng nhăng ấu dâm và về cách thức mà người ta xử lý. Việc quý vị có xuống tinh thần cũng hoàn toàn dễ hiểu. Việc một tài xế taxi hay một luật sư xuống tinh thần không mâu thuẫn với nghề nghiệp mà người này đang hành nghề. Một nhân viên kế toán hay một người thợ cắt tóc có thể thường xuyên bị trầm cảm mà vẫn không ảnh hưởng đến chất lượng công việc. Trái lại, một linh mục không bao giờ có đủ tinh thần trong khả năng của mình để hoàn thành nhiệm vụ.
Tôi không biết quý vị có mất tinh thần hay không. Kinh nghiệm tôi có được với anh em linh mục ở Hoa Kỳ cho tôi suy nghĩ rằng mặc cho mọi thứ luôn luôn có niềm vui trong Tin Mừng. Như ở Ai-len. Lần cuối cùng tôi đến nước này, tôi bị đánh động bởi số linh mục nói với tôi rằng toàn thể hàng giáo sỹ đều xuống tinh thần ngoại trừ họ ! Thật là chính họ khỏe mạnh. Tuy nhiên, ngay cả khi quý vị gìn giữ niềm vui của bạn trong Chúa. Thật không vô ích để nghiêng về những thách đố khác nhau mà chúng ta phải nêu lên và nghiên cứu chung cách thức đối diện với nó trong niềm vui này. Điều đầu tiên phải làm hình như là vui thú với cơn khủng hoảng đụng chạm đến Giáo hội vì nó cho phép chúng ta chia sẻ cơn khủng hoảng của sự thất vọng đang xuyên qua xã hội của chúng ta. Chúng ta đau khổ trong sự hiệp thông với anh em của chúng ta những con người. Oliver Bennet, ở đại học Warwick, Anh, là tác giả của cuốn sách có tựa đề Cultural Pessimism: Narratives of Decline in the Postmodern World (Bi quan văn hóa: câu chuyện về sự suy tàn trong thế giới hậu hiện đại). Toàn thể xã hội luôn nghĩ rằng trước hết “đó đã là thời thuận tiện”. Tuy nhiên tác giả chỉ ra rằng xã hội phương Tây ngày hôm nay luôn bị thuyết phục là đang trên đà suy tàn, và nó đang đau khổ. Bạo lực gia tăng trong các thành phố của chúng ta, những hệ thống sức khỏe nổ tan, bệnh sida lấn chiếm sân, lục địa Phi Châu đang trược dài vì quản lý kém, khủng bố bùng phát khắp nơi và chiến tranh điên dại ở Irắc. Tất cả đều trôi theo dòng nước.
Thất vọng theo nghĩa ki-tô giáo không hàm nghĩa rằng mọi người cảm thấy đau khổ, cho dù số lượng người tự tử gia tăng khắp nơi trên thế giới, ở Hoa Kỳ và ở Nhật Bản. Nếu thế giới thất vọng bởi vì họ không còn tin vào tương lai của nhân loại. Abraham là biểu tượng của niềm hy vọng của chúng ta. Chúng ta hoàn toàn không biết rằng ông đã đến Đất Hứa trong niềm vui. Nếu ông cũng như tôi, ông chắc chắn đang tự hỏi cái gì đó mà ông rất có thể đã quên trong vali !
Trong phần chính của đời tôi, niềm hy vọng ki-tô giáo không dựa trên tuôi thơ ấu thế tục, tín ngưỡng trong tiến bộ. Mỗi năm có một loạt những phát minh. Sau khi đã phồng to như thế và nhiều hơn nữa, máy tính ngày càng chiếm ít đi chỗ của nó. Những nước được giải phóng khỏi Vương Quốc Anh. Người ta ngay cả bắt đầu ăn ngon hơn trong các nhà hàng Anh, phải nói là thế ! Ta có thể thưởng thức món ốc sên và món ếch và khi cha tôi quay lưng đi, mẹ tôi them tỏi vào món ăn. Vương quốc Thiên Chúa trở nên gần hơn ! Nhưng từ khi kết thúc Chiến Tranh Lạnh, niềm tin vào sự tiến bộ đã bốc hơi mất. Fukuyama đã bảo đảm với chúng ta rằng đó là sự kết thúc của lịch sử.
Nền văn hóa của chúng ta có hai câu chuyện dài để kể. Câu chuyện thứ nhất là câu chuyện về vũ trụ. Những đứa trẻ khi biết rằng có vụ nổ Big Bang và sẽ có cơn lạnh Big Chill, khi trái đất và vũ trụ lạnh dần trước khi chết. Chúng ta thật vô nghĩa. Chúng ta còn chưa sinh ra khi những con khủng long cuối cùng biến mất và chúng ta biến mất trước một số loài côn trùng. Sự hiện diện của chúng ta trên trái đất chẳng thay đổi gì hết với lịch sử này không tặng cho chúng ta bất cứ niềm hy vọng nào. Câu chuyện thứ hai với nó hiện nay chúng ta học cách sống là cái gọi là “cuộc chiến chống khủng bố”. Nhưng phải nói về loại lịch sử nào đây ? Về thứ chiến thắng nào chúng ta nói đến ? Luôn nhiều bạo lực hơn, đó là điều nó hứa hẹn cho chúng ta. Không phải ở đó là một lịch sử gây thất vọng chăng ?
Có một niềm ham muốn thực sự thiên đàng nhưng cũng có sự căm ghét đối với những người tuyên bố là biết con đường dẫn đến đó. Chính những người này đóng đinh thế kỷ XX. Hàng chục triệu người đã bị giết chết nhân danh thiên đường xô viết. Sáu triệu người Do Thái đã bị tiêu hủy nhân danh thiên đường của người Aryen. Tháng năm vừa qua, tôi đã đến bảo tang của nạn diệt chủng Toul Sleng, ở Phnom Penh, một trại trong số hàng chục trại đã tồn tại ở Cam-bốt. Bất cứ ai bước chân vào con đường dẫn đến thiên đàng của Pol Pot đều bị tàn sát. Giám mục Phnom Penh đã nói với tôi rằng bất cứ ai có bàn tay mềm mại, nói một thứ tiếng khác tiếng khmer hay đeo kính đều bị bắt. Những tên cai ngục thậm chí là chẳng còn thời gian mà tiêu hủy hồ sơ lưu trữ khi trốn chạy. Trung tâm này có dồi dào hàng trăm ngàn tấm ảnh của tù nhân mà đa số họ còn rất trẻ. Một số có cái nhìn trống rỗng trong khi một số khác – bề ngoài rất trẻ - có vẻ rất vui vẻ, đang hy vọng theo sau nhờ vào nụ cười của họ. Duy nhất trong số họ đã sống sót. Chính giấc mơ chủ nghĩa tư bản đã giết chết và làm biến dạng. Thật hợp lý mà thế này hít thở niềm hy vọng, ở một góc nào đó của thiên đàng, nhưng căm ghét nhũng ai nói là biết làm sao đạt đến đó.
Chúng ta, những người ki-tô hữu, không có la bàn để lèo lái nhân loại. Chúng ta không thể mở sách Khải huyền và nói : “Ít là năm tai họa. Chỉ còn hai tai họa nữa là kết thúc”. Không hơn những người khác, chúng ta chẳng biết gì về cái nhân loại đang mong đợi trong suốt những thế kỷ qua và sắp tới. Niềm tin vào sự phát triển biến mất, chúng phải tái chiếm niềm hy vọng ki-tô giáo đích thực. Nếu chúng ta đạt được đến đó thì nhân loại sẽ khám phá ra rằng chúng ta, những người của Giáo hội, có thể trao tặng cái mà họ đang tìm kiếm.
Hãy nhìn vào Bữa Tiệc Ly. Đó là lịch sử thành lập của chúng ta, lịch sử của Giao Ước mới của Thiên Chúa với tất cả chúng ta. Điều mâu thuẫn, đó là bữa tiệc ly đã diễn ra vào lúc mà các môn đệ mất đi đường dây lịch sử. Rõ ràng là họ đã lên Giêrusalem với đầy hy vọng. Hình như họ tin rằng Đấng Mêsia sắp cầm đầu một cuộc nổi dậy chống người La Mã. Như hai môn đệ trên đường Emmau đã thú nhận với Đức Giêsu : “Còn chúng tôi đã hy vọng rằng ngài sẽ là đấng giải phóng Israel !” (Lc 24, 21). Nhưng tất cả đều xụp đổ vào Bữa Tiệc Ly. Giuđa đã bán Đức Kitô, Phêrô thì chối ngài và những môn đệ còn lại thì chuẩn bị chạy trốn.
Đó là một mâu thuẫn lạ lùng. Câu chuyện của chúng ta đã diễn ran gay cả khi câu chuyện ấy sắp kết thúc. Cộng đoàn của chúng ta được sinh ra vào lúc mà nó bị giải trừ ly tán. Bí tích hy vọng của chúng ta kể lại câu chuyện về sự đánh mất niềm hy vọng. Mâu thuẫn này còn đi xa hơn vì những từ ngữ cho phép chúng ta kể lại câu chuyện này, các tin mừng, đến với chúng ta như cơn khủng hoảng lần thứ hai. Trong khi Giáo hội trải rộng trên khắp toàn cõi Đế quốc La Mã và những kitô hữu bị cầm tù và bách hại, họ mau chóng tìm thấy một câu chuyện khác để giúp họ sống. “Mọi sự đều tốt đẹp, các bạn ơi. Đức Giêsu sắp trở lại rồi”. nhưng Phêrô và Phaolô đã chết, các kitô hữu ở Rôma phản bội nhau và tất cả xụp đổ. Không ít dấu hiệu của cuộc trở lại lần thứ hai trong vinh quang của Đức Kitô ! Nhưng Lời Chúa đã mặc lấy xác phàm bởi Tin Mừng. chúng ta không bao giờ nghe nói đến trong Tin Mừng của Máccô hay của Luca, ngay cả của Matthêu và của Gioan nếu các Tin mừng không bao giờ được tôi luyện bởi cơn khủng hoảng này.
Mỗi khi chúng ta tập hợp xung quanh Thánh Thể, chúng ta nhớ lại rằng niềm hy vọng của chúng ta được thiết lập trên sự thua cuộc của câu chuyện dài này. Câu chuyện của Bữa Tiệc Ly cũng bắt nguồn từ cơn khủng hoảng thứ hai mà nó đã thấy biến mất của một câu chuyện khác. Như các ki-tô hữu, chúng ta không nên sợ hãi khủng hoảng mà cộng đoàn chúng ta đang trải qua hiện nay. Những cơn khủng hoảng, đó là “spécialité de la maison2”. Giáo hội cũng xuất phát từ một trong những cơn khủng hoảng này. Những cơn khủng hoảng đổi mới và làm tươi trẻ lại Giáo hội. Làm sao cơn khủng hoảng này làm cho Giáo hội thân yêu của chúng ta trẻ lại ?
Tôi đã quyết định hôm nay đề cập đến những thách đố mà chúng ta, những linh mục, phải đối diện trong sự nhận dạng (identification) của chúng ta trước Giáo hội phổ quát. Tôi đặc biệt dừng lại trên ba thách đố khó khăn mà nêu lên. Thứ nhất liên quan đến khoảng cách tồn tại giữa việc giảng dạy của Giáo hội và kinh nghiệm của phần lớn người ki-tô hữu với những người chúng ta đang sống với. Thứ hai đề cập đến sự chia rẽ trong lòng Giáo hội. Cuối cùng, chúng ta sẽ xem làm sao sống thời điểm này khi mà Giáo hội bị tác hại bởi biết bao những vụ tai tiếng đụng chạm đến cộng đoàn của chúng ta.

Ngã ba đường

Nếu nhiều linh mục mất tinh thần, ít là ở Anh, đó là vì họ không biết rằng họ phải đồng nhất căn tính của họ với cộng đoàn địa phương của họ hay với Giáo hội hoàn vũ. Phần lớn các linh mục xác định căn tính của họ với cộng đoàn địa phương. Ý nghĩa ơn gọi của chúng ta đến từ cuộc sống mà chúng ta chia sẻ với Dân Thiên Chúa. Chúng ta chia sẻ cuộc đấu tranh và chiến thắng của họ, đồng hành với thất bại của họ và chúng ta nuôi dưỡng đức tin của họ. lời giảng của chúng ta không phục vụ cho việc bán hàng hay tuyên truyền những tư tưởng cá nhân. Chúng ta được kêu gọi để công bố Tin Mừng và giáo huấn của Giáo hội. Tuy nhiên chúng ta xác nhận rằng đôi khi có một hố thẳm thực sự giữa điều chúng ta được xem như phải giảng dạy, nhất là trong khuôn khổ của luân lý, và kinh nghiệm sống bởi Dân Thiên Chúa để vì họ mà lời của chúng ta có thể ra như là không thể hiểu được và không thực tế. Các tín hữu của chúng ta đôi khi có vẻ bối rối.
Hình như có nhiều trường hợp này ở Anh hơn là ở Hoa Kỳ. Quả thật quý vị còn sống trong một đất nước còn rất là nhiền người tin, ít là trên bình diện thực hành, trong khi nước Anh là một trong những nước tục hóa nhất trên thế giới. nhưng kinh nghiệm của tôi chứng minh rằng ngay cả những người tín hữu công giáo thực hành cũng khó mà hiểu được giáo huấn luân lý của Giáo Hội, nhất là về vấn đề tính dục. Ngày nay, đa số người nam và người nữ không sinh hoạt tình dục trong khuôn khổ của hôn nhân với mục đích sinh sản. phần lớn người trẻ mà tôi quen biết thì hoặc sống chung như vợ chồng và dùng các phương tiện ngừa thai, hoặc ly dị và tái hôn, hoặc là người đồng tính.
Làm sao sống thân phận linh mục của chúng ta với Dân của Chúa, làm sao xây dựng một cộng đoàn khi ta xem chúng ta như những đại diện của một cái nhìn đạo đức mà người ta khó mà áp dụng, xem như là loại bỏ ? Lúc này tôi không nghiên về chân lý của giáo huấn này nhưng về sự không hiểu biết hay sự bất khả bên ngoài đối với một số người khi áp dụng diễn từ của Giáo hội. Chúng ta phải lượng giá giáo huấn đạo đức của Giáo hội và tin tưởng vào nó, không gì ngăn cản chúng ta khỏi xuống tinh thần bởi vực thẳm tồn tại giữa thông điệp mà chúng ta phải tuyên bố và cuộc sống mà những người này đang sống với họ và vì họ mà chúng ta sống. Hãy thẳng thắn : ở chỗ của họ, chúng ta cũng sẽ bối rối như họ.
Cộng đoàn của chúng ta tụ họp xung quanh Thánh Thể, bí tích của sự hiệp thông, trong khi nhiều người cảm thấy bị loại ra bởi vì họ sống trong “tình trạng không bình thường” như người ta vẫn gọi. Nhưng chính họ, về mặt thống kê, đang sống cách hoàn toàn bình thường ! Hiển nhiên có “giải pháp mục vụ”, giải pháp mà nhiều người áp dụng nhằm trở lại hàng ngũ mà không thực sự tin tưởng. Nhưng can thiệp theo số phận thì đáng thất vọng và trở về từ chối đối diện với vấn đề mà chúng ta quan tâm đến ngày hôm nay.
Hố thẳm giữa giáo huấn của Giáo hội và kinh nghiệm hàng ngày của Dân Chúa không ngừng bị đào sâu them kể từ thế kỷ XVII. Vào thời Trung Cổ, thần học luân lý được xem như sự khôn ngoan thực tế, không tách rời khỏi cuộc sống hàng ngày. Nhưng sau thời Cải Cách và những cuộc tranh cãi cay đắng về tôn giáo của Cuộc Chiến Tranh Trăm Năm, một nhu cầu hiểu biết được cảm thấy khắp nơi. Sau tất cả những cuộc chiến tranh tôn giáo, người ta muốn rằng họ được dạy bảo điều gì đó chắc chắn, được thiết lập trên những nguyên tắc trừu tượng không để lại chỗ nào nghi ngờ. từ đó, hố thẳm không ngừng được đào sâu hơn, và ngày hôm nay giáo huấn tuyệt vời của chúng ta thường ở cách xa hàng trăm dặm so với thực tế mà cộng đoàn chúng ta đang sống.
Làm sao chúng ta sống trong không gian giữa viễn tượng luân lý của Giáo hội và cuộc sống hàng ngày của những người tín hữu của chúng ta mà không mất tinh thần ? Làm sao chính chúng ta có thể tình trạng này trong niềm vui ? Cha Tony Philpot, linh mục triều nổi tiếng ở Anh, nhớ lại đã dự ở Cambridge, cách nay vài năm, một buổi thuyết trình của đức Hồng y Ratzinger. Phải nói đó là bài trình bày xuất sắc về các nguyên tắc luân lý chung. Nhưng một khi trở về với giáo xứ của mình, trước các tín hữu đang đấu tranh hàng ngày trong các thành phố của họ, cha Philpot nhận ra rằng diễn từ của Hồng y Ratzinger chẳng có ý nghĩa chi hết. Đối với Tony, các linh mục được kêu gọi để sống giữa cái chung và cái đặc thù, không gian trung gian giữa diễn từ trừu tượng và cuộc sống cụ thể. “Không thoải mái để chiếm giữ không gian giữa cái chung và cái đặc thù. Thực sự là một ngã ba đường. Chẳng thoải mái chút nào khi thuộc về một thế giới của sự chính thống và mất biết bao nhiêu là thời gian và tốn biết bao là năng lượng với những người chẳng thuộc về chúng ta. Tôi xin được nói về những bạn trẻ đang chuẩn bị trở thành linh mục triều mà họ đã thú nhận sống ơn gọi của họ trong đau đớn của ngã ba đường này, phải có một trái tim bị chia sẻ. Nếu họ có kinh nghiệm của sự đau đớn này, thì họ sẽ là những linh mục tốt lành.”
Đây là một khởi đầu tốt: nhìn nhận rằng chúng ta thuộc về không giant rung gian này. Ngã ba đường là lương thực hàng ngày của chúng ta. Tôi tự cho phép đề nghị một giai đoạn thứ hai. Lời Chúa mặc lấy xác phàm là trung tâm của đức tin chúng ta. Lời Chúa không bao giờ có thể trừu tượng, chung chung và xa cách. Lời của Tin Mừng tái sinh không ngừng, dù là ở Anh, ở Braxin hay ở Rôma. Với tư cách là những linh mục, chúng ta không thể cung cấp một lời trừu tượng. chúng ta tìm cách làm tái sinh lời của Tin Mừng trong cộng đoàn nơi chúng ta đang sống, bằng ngôn ngữ riêng của cộng đoàn, với những cấu trúc xã hội riêng của cộng đoàn đó, những thắng lợi và thất bại của cộng đoàn, sự giàu có và khó nghèo của cộng đoàn. Linh mục thế nên là bà đỡ thực sự. ngài lắng nghe Tin Mừng và các giáo huấn của Giáo hội và làm cho nó từ ngay nền văn hóa của cộng đoàn mình và với nó. Có thể thấy làm sao Lời của Chúa có thể sinh ra trong cộng đoàn của ngài, ở đây và bây giờ, như một trẻ thơ, với sự mới mẻ bất tận của Thiên Chúa.
Vực thẳm giữa giáo huấn của Giáo hội với cuộc sống hàng ngày của các tín hữu quả thực là đau đớn. Và chính tại đó mà chúng ta được kêu gọi, trái tim chia sẻ. Nhưng chúng ta vẫn ở lại bên cạnh cộng đoàn của chúng ta để một lời mới thấy được sinh ra, để bi kịch của sự nhập thể lại được tái hiện nơi chúng ta và xuyên qua chúng ta. Vì thế, mà chúng ta phải xác định căn tính của chúng ta nơi những con người đang cảm thấy bị tách ly khỏi Giáo hội vì “tình trạng không bình thường” của họ. Hãy đặt chúng ta trong bộ da của họ, hãy lắng nghe với đôi tai của họ, hãy nhìn với con mắt của họ, hãy cảm nhận điều mà họ cảm nhận. Một cách nào đó hãy là họ. Chúng ta khám phá với họ làm sao rao giảng Lời Chúa và giáo huấn của Giáo hội.
Với thánh Tôma Aquinô, có một mối liên hệ cực kỳ chặt chẽ giữa giáo huấn và tình bạn. Chỉ Thiên Chúa mới có thể dạy dỗ theo nghĩa chặt của từ. Chính ân sủng của Chúa trong lòng chúng ta dạy dỗ. Thánh Tôma đặc biệt đánh giá cao bản văn giải thích rằng chỉ có một thầy, ở trên trời. ngài cũng thích bản văn nói rằng chỉ có một thầy duy nhất và không phải người sống ở Rôma ! Ngài thường tham chiếu bản văn này. Nhưng đối với thánh Tôma, các bạn của ngài cũng có khả năng dạy dỗ vì họ đối với tôi là một tôi khác. Các bạn bè dạy chúng ta từ bên trong, có thể nói như thế.
Vực thẳm giữa trừu tượng và đặc thù này thì rất là nhức nhối, nhưng có thể là cơn đau của sự sinh con. Và chúng ta biết rằng niềm vui tiếp nối cơn đau. “Người phụ nữ sinh con trong cơn đau bởi vì giờ của bà đã đến. Nhưng khi đứa trẻ được sinh ra, bà không còn nhớ những bồn chồn lo sợ nữa, trong niềm vui mà bà cảm nghiệm được vì một con người được sinh ra” (Ga 16, 21). Chúng ta là những bà đỡ cho sự sinh ra của Lời Chúa trong thế giới mà chúng ta đang sống.
Nếu chúng ta muốn sống sót cho dù có ngã ba đường này, chúng ta vẫn cần đến lẫn nhau, chúng ta cần đến sự trợ giúp của những anh em linh mục khác. Chúng ta thuộc về Giáo Hội hoàn vũ và chúng ta là những đại diện của Giáo hội. chúng ta thuộc về cộng đoàn địa phương và chúng ta cũng chia sẻ sự sống của cộng đoàn này. Sức hấp dẫn hai mặt này có thể biến chúng ta thành những mảnh vụn nếu chúng ta không chú ý đến nó. Nói “vâng” theo lệnh của giáo hội, là trở nên phát ngôn viên của cơ chế này ; nói “không”, là nổi loạn theo cách thức thường xuyên chống lại Giáo quyền. thực hiện sự chọn lựa duy nhất sẽ phá hủy chúng ta như những người trung gian và những nữ hộ sinh.
Để có thể chịu được những áp lực này, chúng ta những linh mục, cần phải được trợ đỡ bởi sự liên đới mạnh mẽ. ta có thể tưởng tượng ra rằng NFPC là tổ chức nghiệp đoàn các nữ hộ sinh của giáo hội. Điều đó trở lại giải phóng khỏi chủ nghĩa cá nhân dai dẳng là đặc tính thường thấy ở nơi các linh mục. “Tôi là cha xứ của giáo xứ này; chính tôi là người điều hành và tôi muốn rằng không ai khác lẫn lộn trong việc này, không có linh mục nào ở xung quanh, không giám mục, lẫn Rôma”. Tinh huynh đệ của chúng ta đối với anh em linh mục bỏ neo sâu trong điều mà chúng ta là và nó nâng đỡ chúng ta trong sự thuộc về kép vào dòng tu và vào Giáo hội hoàn vũ. Như Đức Gioan Phaolô II nói rất rõ trong tông huấn Pastores dabo vobis: “Thừa tác vụ được truyền chức triệt để thuộc về ‘bản chất cộng đoàn’ và chỉ có thể hoàn thành như ‘công việc chung cộng đoàn’” (n.17). Trước, khi em bé chuẩn bị sinh ra, những người mẹ của ngôi làng đến chung quanh giường của bà mẹ tương lai để giúp đỡ đẻ. Chúng ta cũng cần giúp đỡ nhau để nhập thể Lời Chúa bây giờ và ngay chính nơi đây.
Điều này cũng bao hàm rằng chúng ta đối xử với giám mục như là một người anh em. Trong sắc lệnh Presbyterorum ordinis, ta có thể đọc thấy rằng giám mục phải xem các linh mục trong giáo phận của mình như anh em và như những người bạn. Nhưng một số linh mục không giữ điều này vì nó bao hàm một sự gần gũi với ngài. Một số muốn là giám mục, số khác muốn tránh. Cuối cùng số khác thấy nơi ngài một người cha mà vai trò của ngài là giải quyết những vấn đề của họ và trút trách nhiệm cho ngài trong trường hợp khó khăn. Theo Tony Philpot: “Nếu Công đồng tuyên bố rằng giám mục phải xem các linh mục của mình như anh em và như bạn bè, thì các linh mục chính họ cũng phải làm như giám mục. Có anh em và bạn bè, đó là đã nhận ra những giới hạn riêng, chấp nhận rằng những sai lầm được cho phép và hòa giải phải luôn luôn khả dĩ. Đó là mối quan hệ với nghĩa kép”.

Sự chia rẽ

Nguyên do thứ hai của sự xuống tinh thần thực sự nơi các linh mục chắc chắn đến từ sự chia rẽ sâu sắc của Giáo hội. Và tôi có ấn tượng rằng Mỹ châu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ, phải đặc biệt nêu cao thách đố này, hình như hơn hẳn những nơi khác trên thế giới. Đâu là những hậu quả xuyên Đại Tây Dương của nó ? Hình như đến lúc trở về với “Vương Quốc Anh” ?
Chúng ta, những linh mục, được kêu gọi vào trong một tổ ấm của sự hiệp nhất. Nhưng làm sao đạt đến đó được nếu chính Giáo hội bị chia rẽ bởi sự sợ hãi nghi ngờ sâu sắc và lẫn nhau ? Chúng ta đau đớn vì chính sách của những chính trị gia mà thánh Phaolô căm ghét như trong Giáo hội ở Corintô, “Tôi thuộc về phía Phêrô”, “Tôi ủng hộ Phaolô” ; “Tôi ở phía hồng y Ratzinger” ; “Tôi ở phía Hans Küng” ; “Tôi ủng hộ thần học giải phóng” ; “Tôi ủng hộ von Balthasar”. Sự chia rẽ này hơn cả một sự bất đồng trí thức đơn thuần. Đó là cuộc đấu tranh đáng ghét chống lại quyền lực. Làm sao chúng ta có thể rao giảng Lời Chúa khi mà mỗi câu của chúng ta có thể được phân tích tỉ mỉ, khi chính các giám mục sống trong nỗi sợ hãi mà sự sai lạc có thể đến tai của Bộ Giáo lý Đức tin ? Những người Pha-ri-sêu xét nét tỉ mỉ những từ ngữ của Đức Giêsu để đánh bẫy người. Phải chăng đôi khi chúng ta cũng sống trong chính hoàn cảnh này ngày hôm nay trong lòng Giáo hội ?
Thể chế của chúng ta, dĩ nhiên, luôn có những chia rẽ như vậy, kể từ sự bất đồng giữa Phê-rô và Phaolô ở An-ti-ô-kia. Lịch sử Giáo hội được gieo vào những cuộc đấu tranh giữa các hoàng đế và Giáo hoàng. Các giáo hoàng và phản-giáo-hoàng, chưa nói đến những người gallican và bảo thủ quá khích (ultramontain), giữa người theo thuyết tân thời và người truyền thống, xem như là giữa dòng Tên và dòng Đa Minh ! Không kém phần gây nản lòng. Ngày nay chúng ta tranh luận về bất cứ điều gì và không có chi là ngoại lệ. Điều mới mẻ, theo tôi, đó là chúng ta bất khả tranh luận với phía đối lập. Chúng ta thích nói chuyện về nhau hơn là với nhau.
Bữa Tiệc Ly cũng nhắc cho chúng ta làm sao sống thời khắc này. Nó nhắc cho chúng ta không chỉ sự mất niềm hy vọng mà còn về sự phân rã của cộng đoàn. Thời điểm của sự tố cáo lẫn nhau. “Con sẽ chết với thầy, không, con sẽ không chối thầy”. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã bị bán, phản bội và bị chối. phần lớn các môn đệ sẵn sàng vội vã bỏ nơi họ sống do sợ hãi.
Niềm hy vọng của chúng ta ngự tại việc Đức Giêsu không còn được vây quanh bởi nhóm bạn đồng bàn trong bữa tối với cùng một cảm xúc. Cộng đoàn này không được thiết lập trên một viện tượng chia sẻ. họ không chia sẻ cùng ý tưởng trong khoảnh khắc ngắn ngủi. Một cộng đoàn của những con người có cùng cảm xúc không phải là bí tích của Vương Quốc nhưng chỉ là một bí tích của chính nó. Chúng ta là dấu chỉ của Vương quốc cách rõ rệt vì sự hiệp nhất của chúng ta không phải là tình cảm mà là bí tích. Đó là việc đón tiếp người xa lạ, xem như kẻ thù, mà nó làm cho chúng ta thành dấu chỉ.
Chính ở bên châu Phi mà tôi đã nắm bắt được vài ý nghĩa của điều này. Tôi nhớ đã trải qua vài ngày trên đường của nước Burundi, cùng với hai anh em. Một người tên là Emmanuel, anh là phụ tá cho tôi trong chuyến hành trình ở Phi Châu và người gốc Hutu. Người kia, bề trên địa phương, tên là Loboire và là người Tutsi. Chính vào thời khắc khi mà cả hai sắc tộc đang tàn sát lẫn nhau. Đất nước hầu như tan hoang. Ta nhận ra đó đây những nhóm lính hay phiến quân. Có vài chiếc xe hơi. Trong những trại của người Tutsi, Liboire và tôi ở đó để bảo vệ Emmanuel. Trong trai Hutu, lại đến lượt Emmanuel bảo vệ Liboire. Mỗi tối, chúng tôi cùng nhau cử hành Thánh Lễ.
Emmanuel và Liboire thuộc về những nhóm mà người ta căm thù nhau và người ta chỉ thở được khi nhóm kia biến đi. Căn tính bộ lạc ở Phi Châu bén rễ cách sâu sắc. Nhưng mỗi Thánh Lễ là một dạng của cái chết bí tích. Đó là sự xúc động cao độ mang tính bí tích của một căn tính cho đi, một sự liên đới hiện tại đầy tính bí tích.
Những liên hệ càng mạnh mẽ, thì càng khó mà ôm lấy và chấp nhận những người khác với ta. Những sự bất đồng luôn bùng nổ mạnh hơn trong gia đình. Chúng ta chấp nhận rằng một người xa lạ khác nhưng không phải ai đó cùng máu huyết, cũng như cùng dòng họ, cùng tôn giáo. Micheal Ignatieff kể lại câu chuyện đã xảy ra trong cuộc chiến tranh Nam Tư vào năm 1993. Trên mặt trận, ông hỏi một người Serbe tại sao người Croate lại rất khác ta. Người này rút gói thuốc trong túi ra và trả lời ông : “Ông có thấy những điếu thuốc này ? Chúng là của Serbe. Bên kia, người ta hút thuốc lá Croate.” Ignatieff bẻ lại người này rằng đó cũng cùng loại thuốc. và người Serbe này nhún vai nói với ông trong khi lau chùi khẩu Zastovo : “Các ông là người ngoại quốc, các ông chẳng hiểu chi hết.” Nhưng câu hỏi làm ông đau xót và vài phút sau ông hạ vũ khí và đưa ra lời giải thích : “Nghe đây, những người Croates nghĩ rằng họ có giá hơn chúng tôi, rằng họ là những người Âu châu sang trọng và kiểu cách. Sự thực đó là tất cả chúng tôi chỉ là thứ rác rưởi của Balkan.” Người Croate thì khác bởi vì họ không chấp nhận trở nên như người khác!
Ơn gọi linh mục của chúng ta là quy tụ những người nghĩ như chúng ta và những người nghĩ khác chúng ta. Ở đâu có thể thực hiện điều này ? Mỗi trường phái ý thức hệ đều có trường đào tạo nơi chân lý thuần túy được giảng dạy, với cùng những ấn bản của nó (CommunioConcilium), những tập san báo chí (National Catholic Report), các phân khoa đại học, xem như các giáo phận của nó. Tồn tại chăng một nơi giữa lòng Giáo hội nơi chúng ta quên đi những giao thông hào để chúng ta noi năng ? Có chăng một cuộc tìm kiếm chân lý chung ? có quá nhiều thinh lặng trong Giáo hội. tuy nhiên tôi đã tham dự vào nhiều thượng hội đồng các giám mục ở Rôma, và ngay tại đó có rất ít sự đối thoại thực sự. mỗi người đến với bài phát biểu của mình đã dọn sẵn và đọc nó mà không cần quan tâm đến những gì người khác đọc.
Hơn là đi làm khó cho bề trên, hãy tự hỏi xem đâu là không gian chúng ta tự giành cho sự tự do đối thoại trong từng giáo phận, trong mỗi giáo hạt, mỗi giáo xứ của chúng ta. Trong suốt Thế Chiến II, những người lính Anh và lính Đức gặp nhau vào đêm Noel, trên một mảnh đất trung lập để cùng hát lên những bài thánh ca Giáng sinh. Có một chỗ nào, có giây phút nào chúng ta làm biến đi những chia rẽ về mặt ý thức hệ để nói với và lắng nghe nhau ? Phải chăng là trường hợp ngày hôm nay giữa lòng buổi họp này hay tất cả chúng ta cùng theo đúng hàng ngũ của mối suy tư ? Chính Hiệp hội toàn quốc các tu sỹ đã bị chia tách làm đôi ngay tại nước này.
Trong bầu khí của sự chia rẽ và của sự phân cực trong Giáo hội, còn hữu ích chăng để cố gắng ? Những người có quyền chắc chắn xem cuộc đối thoại hữu ích này trong khi những người không có quyền thất vọng lắng nghe. Chúng ta hãy trở lại với Bữa Tiệc Ly.
Bữa Tiệc Ly làm nổi bật mối xung đột quyền lực. trước hết, quyền lực của Đức Giêsu, quyền lực của dấu chỉ, rồi quyền của sức mạnh thô bạo của những người lính đến bắt Đức Giêsu. Trong Tin Mừng, thánh Gioan mô tả cho chúng ta sự gia tăng sức mạnh của cuộc xung đốt này. Trong khi Đức Giêsu hoàn tất những dấu chĩ của ngài, từ tiệc cưới Cana đến phục sinh của Lazare, thì sự chống đối ngày càng lớn. quyền lực của những dấu chỉ nơi ngài không phải là mà thuật. Đức Giêsu không có gì để sánh với Phù thủy Merlin. Những dấu chỉ của ngài thì mạnh mẽ vì chúng nói và có một ý nghĩa. Đó là những dấu chỉ của Lời đã mặc lấy xác phàm.
Cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu và Philatô đã đi đến đỉnh điểm. Philatô nói với Đức Ki-tô: “Ông không biết rằng tôi có quyền đóng đinh ông sao ?” Nhưng Đức Giêsu được thiết lập trên sức mạnh của chân lý và của ý nghĩa. Ngài trả lời Philatô: “Tôi đến thế gian này để làm chứng cho sự thật. mọi người thuộc về chân lý thì nghe tiếng tôi.” Và Philatô tiếp lời: “Sự thật là gì?” mà không chờ câu trả lời. Ông không cần nó. Ông đã có lính của ông.
Mỗi thánh lễ là sự tái hiện lại sự đối đầu này của hai loại quyền lực. Nó là dấu chỉ mà chúng ta tin rằng chân lý thì mạnh hơn bạo lực. “Ánh sáng chiếu rọi trong bóng tối và bóng tối không thể dập tắt.” Vì thế chúng ta, những linh mục, có can đảm tiếp tục tìm kiếm sự thật và ý nghĩa, ngay cả khi điều đó có vẻ không hợp thời. Theo Hồng y Suhard, “một trong những việc phục vụ đầu tiên mà người linh mục làm cho thế gian đó là công bố sự thật”. Đó là điều đức thánh cha mời gọi chúng ta thực hiện trong Veritatis splendor (Ánh rạng ngời chân lý). Trong một thế giới khao khát chân lý nhưng lại nghi ngờ về những khả năng của nó, đức thánh cha mời chúng ta tìm kiếm chân lý với lòng can đảm.
Nhật ký của Yves Congar từ 1946 – 1956, xuất bản năm 2000, là một trong những cuốn sách đau đớn nhất mà nó gây cho tôi khi đọc. Con người này có trí thông minh kiệt xuất, có sự nhạy cảm cực kỳ và có một danh dự ngoại hạng đã cảm thấy bị đóng đinh bởi Tòa Thánh. Ngài đã rút lui vào thinh lặng, khiêm nhường, và tệ hại nhất cho một người Pháp, là bị lưu đày qua Anh. Làm sao ngài có thể chịu đựng được thời ký đen tối này ? Khi tin rằng sự thật sẽ chiến thắng khải hoàn. Vào năm 1954, giữa cơn khủng hoảng, ngài viết: “Nói sự thật. Với sự cẩn thận, không gây tai tiếng vô ích hay khiêu khích. Nhưng ở lại – và càng ngày càng trở nên – nhân chứng đích thực và thuần túy của điều là sự thật”. Điều này đòi hỏi nơi ngài sự kiên trì to lớn, và theo thánh Tôma Aquinô, lòng kiên trì ở trung tâm của đức cậy, niềm hy vọng. Chúng ta cần đến sức chịu đựng kiên trì của người chắc chắn rằng chân lý sẽ kết thúc bằng chiến thắng.
Tôi tin rằng nói lên sự thật đòi hỏi hai điều từ phía chúng ta : lòng can đảm và khiêm nhường. Lòng can đảm vì chân lý không phải lúc nào cũng được chào đón. Giáo hội sợ tranh luận. Hơn nữa, nó có cảm giác rằng nếu những bất đồng thông qua đó mà bị đưa ra công luận thì điều đó có nguy cơ gây khó khăn cho quyền hành của Giáo hội và chúng ta trở nên bất chính với Giáo hội. Nhưng về vấn đề này, tôi nghĩ rằng không gì làm suy yếu quyền hành của Giáo hội mà việc này không nói lên điều mà chúng ta có trong lòng. Không gì còn có thể làm sói mòn sự khả tín của những lời nói của chúng ta mà việc nhát đảm và sợ hãi phạm lỗi. Đâu là parrhesia3, tiếng nói can đảm của các Tông đồ ?
Nhưng nói lên sự thật cũng đòi hỏi chúng ta một lòng khiêm nhường to lớn. Quả thật, chúng ta không thể diễn tả như những người đối lập, không hiểu biết và bè phái, nhưng là những người có chân lý trọn vẹn. Tất cả những gì chúng ta có thể làm đó là đóng góp cho cuộc tranh luận, khi hy vọng rằng chân lý sẽ hoàn thành bởi ra đi và có thể chúng ta sai lầm. Chúng ta nói cách tự do, không bởi vì chúng ta có câu trả lời cho chững câu hỏi mà chúng ta đặt ra nhưng để đóng góp cho việc tìm kiếm câu trả lời. Chính bởi vì chúng ta tin rằng Thánh Thần đã ngự xuống trên Giáo Hội mà chúng ta không sợ sai lầm. Dân Thiên Chúa không dễ dàng để cho bị lạc lối trên đường chính nẻo ngay. Vả lại tôi sẵn sàng đánh cá rằng cho dù chúng ta sai lầm thì nó cũng không đưa Giáo hội đến chỗ thất bại. Chúng ta không thể tìm kiếm chân lý mà nếu chúng ta dám giỡn với những tư tưởng, rằng nếu chúng ta đưa ra các giả thuyết diên khùng để thấy ở đâu nó dẫn chúng ta đến, rằng chúng ta đưa ra những dự án và thử thời vận của chúng ta. Nếu chúng ta không vui thú về sự tự do của chúng ta (trong mọi nghĩa của từ) thì chúng ta không bao giờ đến gần được với mầu nhiệm Thiên Chúa.

Những tai tiếng

Tôi xin được kết thúc bằng đôi lời về những tai tiếng mà chúng làm nhục Giáo hội trong những năm vừa qua. Vì chúng, mà các linh mục ngày hôm nay khó mà cảm thấy mình là người đem tin vui. Quý vị biết rõ hơn tôi về những tàn phá mà chúng gây ra : đau khổ của các nạn nhân lạm dụng tình dục ; sự nhục nhã của các linh mục nói chung ; nỗi đau của người giáo dân, khi sững sờ trước sự phản bội niềm tin của họ. Mà còn là bộ mặt giận dữ theo cách thức của một số giám mục đã xử vấn đề này và xấu hổ thấy Giáo hội bị các phương tiện truyền thông đưa xuống hàng thứ yếu. Điều đó, quả thực, đó là cơn khủng hoảng.
Ít là nó đã không trầm trọng như Bữa Tiệc Ly ! Đức Giêsu ngồi xung quanh bàn với Giuđa kẻ phản bội, và Phêrô, viên đá xây lên Giáo hội và kẻ sẽ chối thầy mình đến 3 lần. Ngài quy tụ các môn đệ của ngài những người gần như tất cả đều vắt giò lên cổ mà chạy. Đó là cơn khủng hoảng đã làm nảy sinh ra Giáo Hội, cơn khủng hoảng mà chúng ta cử hành hàng ngày. Hãy nhớ lại : chúng ta không có lý do gì để sợ những cơn khủng hoảng vì chúng đổi mới chúng ta.
Đức Giêsu đã bị trao nộp. Vào lúc cử hành Thánh Thể, chúng ta nhớ lại cách thức mà ngài đã chấp nhận sự phản bội này để làm thành sự cho đi. Ngài đã tự do chấp nhận hành vi tàn ác này và đã chuyển nó thành thời khắc của ân sủng. Nạn nhân thụ động đã phản ứng cách sáng tạo. Quý vị chiếm lấy thân thể của tôi để cho đi. Và quý vị đã mặc cả nó không hơn 30 đồng bạc. Nhưng mà nghe đây : đây là mình thầy, giao nộp vì anh em.
Niềm tin bào chúng ta nắm lấy thời điểm của sự phản bội và xấu hổ này. Được trợ giúp bởi tính sáng tạo vô hạn của Thiên Chúa, chúng ta có thể tạo nên thời điểm của ân sủng và hồng ân. Nếu chúng ta để cho Thiên Chúa đặt tay của người đặt trên Giáo hội của người, thì nó sẽ tái xuất đẹp hơn (repartira de plus belle). Một hôm, tôi đi dạo trên bờ đê chắn sóng ở phía bắc xứ Well trước khi nói chuyện với Liên hiệp các bà mẹ công giáo, thình lình tôi bị một đống nghiêu rơi xuống đầu. Từ trên trời, những con mòng biển đã thả từ trên cao những con nghiêu sò này để làm vỡ vỏ cứng và đến ăn phần bên trong ngon lành của loài thân mềm. Đó chính xác điều Thiên Chúa thực hiện vào thời khủng hoảng: ngài đánh vỡ vỏ cứng của sự dầy đủ của chúng ta và của thói ngạo nghễ của chúng ta hầu đạt đến phần mềm dịu nhất, dễ tổn thương nhất của cuộc đời chúng ta. Vì thế chúng ta phải sống cơn khủng hoảng này trong niềm vui.
Làm sao chúng ta đổi mới cơ chế của chúng ta ? Khi đưa đến Giáo hội chắc chắn cho người trẻ, một hải cảng yên tĩnh trong một thế giới của những kẻ cướp. Khi đưa đến một Giáo hội khiêm nhường hơn nó được kể vào số những người không tuân thủ, như thể nó là Thiên Chúa của nó. Một Giáo hội nơi rõ ràng nói rằng Đức Ki-tô đã đến tìm kiếm những người tội lỗi và không phải những người công chính, và nhiệm vụ của ngài đã thành công thực sự! Khi làm tái sinh một Giáo hội ít giáo sỹ tính hơn và bí mật, một Giáo hội trong sáng hơn nơi người giáo dân thấy được nhìn nhận đầy đủ phẩm giá người ki-tô hữu được rửa tội của họ. Cơn khủng hoảng này có thể đánh dấu sự kết thúc của một Giáo hội được nhận ra như một công ty đa quốc gia, xa cách và quan liêu. Giáo hội có thể trở thành một cộng đoàn của những môn đệ Chúa Giêsu.
Để được như thế, chúng ta phải nắm được thời khắc này với tất cả sức mạnh sáng tạo của Đức Giêsu. Này là mình thầy trao nộp vì anh em. Ngài biến đổi thời khắc của sự phân tán và tan rã này thành bí tích của Giao Ước Mới, một sự hiệp thông mới. Đừng sợ hãi, không ai làm cho chúng ta sợ hãi, nhất là không phải các phương tiện truyền thông. Đức Giêsu nắm lấy bởi những người phản bội, được họ vây quanh và từ họ mà làm sinh ra Giáo hội của ngài. Nếu một ngày nào đó chúng ta nghi ngờ một linh mục đã phản bội ơn gọi của người này, liệu chúng ta có cùng một sự can đảm như vậy ? Chúng ta không thể chắc chắn là không có gì phải làm với họ. Tôi nghe thấy nói đến một giáo phận kia từ chối toàn bộ trách nhiệm trong sự lầm lạc của một số linh mục dưới lý do họ là những “nhân vị độc lập”. Nhưng Đức Giêsu không bao giờ xem Phêrô như “người độc lập”. Ngài không bao giờ chối bỏ Phêrô. Mà trái lại chính Phêrô thốt lên : “Tôi không biết ông này”. Chúng ta đã phải đối diện với tai tiếng kinh khủng của các linh mục ấu dâm. Liệu ngày hôm nay chúng ta có dám đối diện với tái tiếng khủng khiếp này, chính tin mừng, muốn chúng ta tha thứ cho họ, chúng ta ôm lấy họ và chúng ta nhìn nhận họ như anh em của chúng ta ?
Vậy, mặc cho mọi khó khăn hiện tại, chúng ta có thể là người đem tin vui. Tôi chắc là phần lớn trong quý vị đã là rồi. Tôi cố gắng chỉ cho quý vị thấy làm sao trong ba lãnh vực khác nhau, khoảnh khắc hiện tại có thể là thời khắc của hồng ân. Hố thẳm đau đớn giữa giáo huấn của Giáo hội và kinh nghiệm sống của nhiều người công giáo có thể cho phép sinh ra một Lời Mới mặc lấy xác phàm. Sự chia rẽ trong Giáo hội có thể đưa đến một thời điểm mới của sự thật cho phép tái xây dựng căn nhà chung của chúng ta. Để, chẳng có chi phải sợ hãi và hãy để cho ân sủng sáng tạo của Thiên Chúa hoạt động để những tai tiếng được sống như một thời điểm của sự đổi mới.


1 Bản gốc tiếng anh đăng trên Origins ngày 27/03/2004. Bản dịch tiếng Pháp do Caroline Lecerf-Pajot cho Documentation Catholique, no2322, 17/10/2004.
2 đặc sản của nhà hàng này. Từ tiếng Pháp trong nguyên văn. (ND)
3 Thẳng thắn, tự do ngôn luận.

Aucun commentaire: