Xin cho niềm vui của anh em nên trọn (Ga 16,24)
Bài
thuyết trình của cha Timothy Radcliffe, o.p., tại Hội Nghị
Các Linh Mục Toàn Quốc tại trường Trung Học Digby
Stuart, Roehampton, Anh Quốc, ngày 17.9.2002.
Tôi xin nói về niềm vui và
nỗi buồn của đời linh mục hôm nay. Lúc gặp Hội Đồng
phụ trách Hội Nghị Các Linh Mục Toàn Quốc để hỏi
xem tôi sẽ đóng góp với Hội Nghị này như thế nào,
tôi được nói cho biết rằng nhiều linh mục tại Anh
Quốc và xứ Wales hiện đang rơi vào tình trạng buồn
phiền và chán nản. Tình trạng chán nản như thế lan
rộng tới đâu tôi không được biết lắm. Nhưng thiết
nghĩ, hiện nay có bao nhiêu linh mục chán nản, thì cũng
có bấy nhiêu lý do chính đáng giải thích cho biết tại
sao lại ra như thế : chẳng hạn như ơn gọi giảm sút,
thiếu căn tính linh mục rõ nét, mất lòng trọng kính đối
với ơn kêu gọi, những vụ tai tiếng lạm dụng tình
dục, nhiều giáo xứ không còn thấy xuất hiện những
người trẻ nữa, sự bất đồng quan điểm đối với
một số phát biểu từ phía Hội Thánh và còn nữa ... Vì
thế, tôi mong được xem xét một số trong những vấn đề
trên, và xem chúng ta có thể đối diện với những vấn
đề ấy như thế nào mà vẫn không cảm thấy nản lòng
thối chí.
Đây là điều quan trọng, bởi
vì có một sự mâu thuẫn sâu xa giữa chức linh mục với
tâm trạng chán chường. Anh có thể là một giám đốc
ngân hàng hay một anh tài xế taxi tốt nhưng lại chán
chường, hoặc anh có thể là một kế toán viên hay một
luật sư ưu sầu nhưng lại thật hiệu quả. Thế nhưng
không thể nào là một người giảng thuyết Tin Mừng mà
lại cứ chìm sâu trong u sầu chán nản được. Vì như
thế là vô nghĩa. Chúng ta chỉ có thể là những người
đem Tin Mừng khả tín, nếu căn bản, để không muốn nói
là luôn luôn, chúng ta là những người vui tươi. Tôi
không có ý nói đến kiểu vui của những tràng vỗ tay,
của ồn ào náo nhiệt, kiểu đi vòng vòng vỗ vai người
này vỗ lưng người nọ mà bảo với họ rằng : hãy vui
lên, bởi vì Đức Giêsu yêu thương bạn đấy. Kiểu vui
như thế tôi thấy chán vô cùng. Nhưng có một niềm vui
sâu xa thuộc về ơn gọi linh mục của chúng ta. Niềm vui
này được nối kết chặt chẽ với nỗi buồn và thậm
chí với cả những cơn nóng giận nữa. Ơn gọi của
chúng ta qui tụ chúng ta lại để chia sẻ không phải chỉ
có cuộc thương khó của Đức Kitô mà thôi đâu, nhưng
còn cả những đam mê của Người, niềm vui nỗi buồn và
cơn nóng giận của Người nữa. Đấy là những nỗi đam
mê của những ai đang sống với Tin Mừng. Cho nên tôi
mong được nhìn vào một số vấn đề có thể thực sự
đã khiến chúng ta cảm thấy chán nản, để xem chúng ta
có thể phải đối diện với những vấn đề ấy với
vui buồn và cả giận dữ hơn là để cho mình ra bạc
nhược vì nản lòng thối chí như thế nào.
Trước hết, tôi xin khởi đầu
bằng việc nhìn vào căn tính của linh mục, rồi xem khi
sống được căn tính ấy với cộng đoàn địa phương
thì gặp những thách đố nào. Rồi ngày mai, tôi sẽ
trình bày một số vấn đề có thể làm cho chúng ta chán
nản khi chúng ta tương quan với Hội Thánh ở một mức
độ rộng lớn hơn : đó là vai trò của chúng ta trong
việc công bố giáo huấn của Hội Thánh, những vụ tai
tiếng báo chí đang làm rùm beng khắp nơi, và vân vân ...
Tôi biết rõ mình chẳng phải
là người lý tưởng để làm công việc này. Mười năm
qua, tôi sống ngoài Anh Quốc, cho nên tôi chưa bắt nhịp
được nhiều với Hội Thánh ở đây. Tôi lại là một
linh mục thuộc một Dòng tu, cho nên dù chúng ta có phải
đối diện với những thách đố như nhau, nhưng đôi khi
chúng ta lại có những phản ứng rất khác nhau. Nhưng tôi
lại tự an ủi khi nghĩ đến một người anh em của tôi
có lần thuyết trình ở Hoa Kỳ. Anh kết thúc bài thuyết
trình với tiếng vỗ tay khá ư là nhạt nhẽo. Anh về
chỗ ngồi và ghé qua hỏi người bên cạnh : “Bài không
đến nỗi tồi chứ ?” Ông kia trả lời : “Đừng lo.
Tôi không trách anh đâu. Có trách là trách người đã mời
anh nói thôi”.
Căn tính của linh mục
Trong tác phẩm “Gương Mặt
Đổi Thay của Chức Linh Mục”, Donald Cozzens có viết
: “Tận sâu thẳm cuộc khủng hoảng tâm hồn của linh
mục, chính là việc đi tìm căn tính mở ra của mình là
một người tôi tớ được phong chức của Đức Giêsu
Kitô. Vấn đề căn tính của linh mục này có nguồn gốc
sâu xa từ trong tâm hồn của linh mục”. Trong khi một số
linh mục từ chối quan tâm đến căn tính linh mục của
mình, thì nhiều linh mục khác lại để cho vấn đề treo
lơ lửng trên đầu như đám mây báo bão, tước đoạt
mất lòng tin tưởng phó thác họ vốn đã có lần tha
thiết, và rồi đẩy họ vào tình trạng hoang mang và trở
nên khép kín trong một số hoàn cảnh nào đó của giáo
xứ.
Chúng ta ai cũng biết, trước
Công Đồng Vaticanô II, người linh mục có một căn tính
rõ rệt. Linh mục khi ấy là một khuôn mặt thánh thiêng
đáng kính, có đẳng cấp xã hội và được kính trọng
chỉ vì được phong bẩy chức thánh. Linh mục hồi ấy
là quí giá vì linh mục cử hành Thánh lễ và thánh hoá
bánh và rượu thành Mình và Máu của Chúa, cho dù linh mục
ấy có là cha xứ và nhà giảng thuyết đáng sợ đi chăng
nữa. Căn tính ấy được Công Đồng đưa ra đặt vấn
đề. Thế là đã có việc khám phá lại chức linh mục
chung của toàn thể Dân Thiên Chúa, khám phá lại ơn gọi
nên thánh Thiên Chúa dành cho mọi người, và khám phá lại
hôn nhân là một ơn gọi linh thánh. Chức linh mục nay
tiên vàn được coi là việc phục vụ và lãnh đạo. Hầu
hết các linh mục đã và còn đang rất nhiệt tình với
căn tính mới mẻ này. Ít là trên lý thuyết, điều này
đã giải phóng chúng ta khỏi thứ chủ nghĩa giáo sĩ ngột
ngạt, và đem lại cho chúng ta một căn tính giống Chúa
Kitô và có tính cách Tin Mừng nhiều hơn.
Vậy bây giờ vấn đề là gì
? Tại sao hơn ba mươi năm sau Công Đồng, lại có quá
nhiều linh mục cảm thấy bất an và không rõ mình là ai
như thế ? Tôi có thể nêu lên ít là bốn lý do.
Ý tưởng coi linh mục như là
người tôi tớ và người lãnh đạo thật là đẹp, nhưng
từ ngữ như thế có khuynh hướng dẫn đến những cách
nghĩ cách hiểu ngược lại. Tôi tớ thì thường không
được cho là có nhiệm vụ lãnh đạo, kiểu mấy anh quản
gia hống hách. Đến đây tôi nhớ những anh chàng hầu
bàn người Pháp, quyền uy đầy mình, cố nói cho bạn
biết nên gọi món gì trong thực đơn. Cũng nhớ đến vị
giám mục Ái nhĩ lan đã tuyên bố trong dịp lễ tấn
phong giám mục của ngài, rằng ngài sẽ phục vụ giáo
phận của mình bằng roi sắt.
Hình ảnh người linh mục
trong thần học hiện đại lại quá lý tưởng đến nỗi
chẳng ai trong chúng ta có thể thực hiện được. Khi
chuẩn bị cho bài nói chuyện này, tôi đã đọc rất
nhiều và bỗng kinh hoàng khi khám phá thấy mình từng là
một nhà giảng thuyết kỳ tài, một người quản trị có
năng lực, một bậc kỳ tài về sáng tạo phụng vụ, một
người biết kiên nhẫn lắng nghe, một con người lãnh
đạo đầy hứng khởi, một guru (tiếng Phạn :
người hướng dẫn tâm linh), tử tế với cả người trẻ
lẫn người già. Thế là, tôi bỗng chán nản quá sức,
và cho mình là một linh mục tồi, đệ đơn xin hồi tục
thì hơn. Suýt nữa anh em làm hỏng tôi đấy !
Thần học về phục vụ có
khuynh hướng chú mục vào vấn đề linh mục làm những
việc gì hơn là linh mục là ai. Điều này dẫn đến một
cái nhìn thực dụng về chức linh mục. Muốn là một
linh mục tốt, ta phải làm việc không ngơi nghỉ và lại
còn phải làm cho có hiệu năng nữa. Thế nhưng trong cái
thế giới tục hóa này, cùng với việc sống đạo đang
bị giảm thiểu, các linh mục thường sẽ khám phá thấy
rằng chúng mình thành công ít lắm, và như thế ắt phải
có nhiều thất bại.
Ngày nay khái niệm thừa tác
vụ được mở rộng mênh mông. Ở Hoa Kỳ, 80% thừa tác
viên trong Hội Thánh là giáo dân, và 80% những người
giáo dân này lại là phụ nữ. Điều này sinh ra hai hậu
quả. Một là linh mục cảm thấy mình ít đặc biệt hơn.
Như vậy thì mọi hy sinh sống đời độc thân và nỗ lực
vất vả chẳng lẽ lại chỉ đáng để được kể vào
một trong số những thừa tác viên kia hay sao, trong khi
phần lớn những thừa tác viên ấy đều có đủ mọi
điều thú vị của đời sống hôn nhân ? Hai là, chức
linh mục là điểm nhắm của biết bao khiêu khích tấn
công từ phía những người cảm thấy bị loại ra khỏi
chức ấy, chẳng hạn những người nam người nữ đã
lập gia đình. Cho nên linh mục xét như là một thừa tác
viên có thể cảm thấy mình vừa mất giá lại vừa bị
ganh tỵ, trường hợp sau là một trong những tình huống
tệ hại nhất – “Sao ông dám loại tôi ra khỏi vai trò
đúng ra chẳng mấy quan trọng mà ông đang giữ ?”
Vì thế, thật khó mà hiểu
một số linh mục, thường là những vị trẻ tuổi, cứ
bị cuốn hút trở về những ngày êm đềm xa xưa, hồi
linh mục còn là một khuôn mặt đáng kính, với đôi bàn
tay thiêng thánh. Những vị linh mục khác thì lại sợ
điều ấy, coi như trở về với một thứ ưu tuyển giáo
sĩ, và cảm thấy thích thú với một nền thần học về
phục vụ, nhưng cũng có một số vị nhìn nhận rằng
mình cũng chẳng dám chắc mình là ai và là một vị linh
mục ngày hôm nay có ý nghĩa gì. Có chăng một lối đi ở
phía trước ?
Tôi tin rằng có và lối đi ấy
được tìm thấy trong thư gửi các tín hữu Híp-ri. Đây
là bản văn duy nhất trong Tân Ước triển khai một thần
học về chức linh mục. Trong thư này, chúng ta thấy một
nhãn quan về Đức Kitô Thượng Tế. Người là một khuôn
mặt thiêng thánh đang cử hành phụng tự thiên quốc.
Nhưng mà sự thánh thiện của Người không làm cho Người
tách biệt ra khỏi những người khác, trái lại còn đưa
Người đến với chúng ta. Điều này cho chúng ta một cái
nhìn sâu xa về chức linh mục. Ở đây tôi không có đủ
thời gian để khai triển điểm này. Tuy nhiên, có thể
nói cái nhìn như thế đưa chúng ta vượt khỏi sự phân
biệt thành hai cực, một bên là những người coi chức
linh mục như là việc phục vụ với một bên kia là những
người luyến tiếc chức linh mục xét như là một hình
ảnh thánh thiêng.
Theo Cựu Ước, sự thánh thiện
bao hàm sự tách biệt của thầy tư tế khỏi tất cả
những gì là ô uế và bất toàn. Thượng tế không được
đến gần xác chết, và nếu như anh muốn không cho đối
thủ của mình làm thượng tế, thì anh chỉ việc nhẹ
nhàng tiến đến và cắn đứt tai của người ấy, thế
là xong ! Thế nhưng, trong thư gửi tín hữu Híp-ri, chúng
ta lại thấy cái nhìn về sự thánh thiện trên đi lộn
đầu xuống đất. Sự thánh thiện của Đức Kitô được
biểu lộ trong việc Người ôm ấp tất cả chúng ta,
trong tất cả những gì là bất toàn tội lỗi của chúng
ta. Sự thánh thiện của Người được giãi bày không
phải do khoảng cách đối với chúng ta, nhưng do sự gần
gũi chúng ta. Và đỉnh cao của thừa tác vụ thánh thiêng
của Người chính là khi Người ôm trọn lấy cái chết,
vốn là cái ô uế nhất, và trở thành cái gọi là thây
ma. Vì thế, Đức Giêsu cũng đã chịu đau khổ bên ngoài
cổng thành để thánh hóa dân chúng bằng máu của Người.
“Vì thế, chúng ta hãy ra khỏi trại mà đến với Người,
cam lòng gánh vác nỗi khổ nhục Người đã chịu” (Hr
13,12).
Tuy các sách Tin Mừng không khi
nào nói trực tiếp Đức Kitô là linh mục nhưng chúng ta
vẫn thấy cùng một thần học về sự thánh thiện. Người
đã ôm lấy vào lòng những kẻ không ai dám đụng chạm,
tức là những người mắc bệnh phong. Người ăn uống
với những người tội lỗi. Người là con chiên chịu
sát tế trên bàn thờ thập giá. Cho nên toàn Dân Thiên
Chúa là thánh và là dân tư tế, vì dân ấy là hiện thân
của vòng tay Đức Kitô ôm ấp tất cả chúng ta với
những cuộc đời nhiễu tạp hổ đốn, với những yếu
đuối và thất bại của chúng ta. Và bí tích của sự
thánh thiện ấy chính là Thánh Thể, nơi đó Đức Kitô
tặng ban thân mình Người cho tất cả chúng ta, gồm cả
những môn đệ đã phản bội và chối từ Người nữa.
Sự thánh thiện của Hội Thánh được biểu lộ trong
việc Hội Thánh gồm cả những con người tội lỗi, chứ
không loại họ ra ngoài. James Joyce nói về Hội Thánh như
thế này : “Nơi đây, ai cũng đến được”. Hội Thánh
cũng cống hiến cho chúng ta là những thừa tác viên có
chức thánh một nhãn quan mới về chức linh mục của
chúng ta, vừa hoàn toàn thoát khỏi chủ nghĩa ưu tuyển
giáo sĩ, vừa được đặt trái lại thiên chức linh mục
của chúng ta sẽ được đặt nền tảng trên sự gần
gũi thân tình và hoà nhập với con người trong những
đấu tranh và những thất bại của họ.
Xin cho tôi được xưng tội.
Lúc tôi sắp chịu chức linh mục, tôi bỗng đâm ra nghi
ngờ kinh khủng, không biết mình thực sự có ơn gọi làm
linh mục hay không. Tôi vẫn cảm thấy vô cùng dị ứng
với chủ nghĩa giáo sĩ, cũng như bất kỳ dấu hiệu nào
tỏ ra linh mục là hơn hẳn những người khác. Tôi sợ
thói giả hình trong đó, vì biết mình cũng chẳng hơn gì
ai cả. Tôi chỉ chấp nhận chịu chức linh mục vì vâng
lời anh em của tôi. Từ đó tôi mới hiểu được những
giọt lệ của thánh Âu Tinh khi người được thụ phong
linh mục. Những người theo phái hoài nghi thì cho rằng sở
dĩ thánh nhân khóc là vì không được làm giám mục, thế
nhưng thực ra là vì người chẳng ao ước làm linh mục
một chút nào. Sau khi thụ phong linh mục, tôi rùng mình
khi trông thấy cha xứ của cha mẹ tôi đang tiến về phía
tôi. Chuyện là thế này, chỉ trước đó hai năm thôi,
người đã bảo tôi bỏ “mấy ông Đa Minh lạc giáo ấy
đi” vì phần rỗi linh hồn của tôi. Ấy thế mà bây
giờ, người lại quì xuống trước mặt tôi để xin phép
lành từ đôi bàn tay linh thánh của tôi. Tôi đã biến
khỏi phòng tiếp tân, về phòng của mình, để tìm lại
sự bình thản. Tôi chỉ trở lại nơi ấy bởi vì có một
người anh em người Đức cứ lẽo đẽo theo tôi lên cầu
thang để cố nói cho tôi về Heidegger ! Chuyện này xem ra
còn tệ hơn nhiều.
Sau cùng, tôi bắt đầu cảm
thấy yêu mến chức linh mục của mình khi ngồi tòa giải
tội. Chính ở nơi đây, tôi đã khám phá thấy rằng việc
thụ phong đưa chúng ta đến chỗ gần gũi con người đúng
vào lúc họ cảm thấy họ xa Thiên Chúa nhất. Chúng ta là
một với họ, ở bên cạnh họ, khi chúng ta cùng nhau đối
diện với tính mong manh, thất bại và tội lỗi của kiếp
người, chúng ta cũng như họ. Nỗi lo về chủ nghĩa giáo
sĩ không phải vì nó làm cho người linh mục thành một
khuôn mặt thánh thiêng, cho bằng nhận thức về thánh
thiêng của nó xuất phát từ Cựu Ước hơn là từ Tân
Ước.
Một trong những dịp thiêng
thánh nhất tôi được tham dự chính là lễ an táng của
một người tên là Benedict, khoảng hai mươi lăm năm trước
đây. Tôi xức dầu cho anh ngay trước khi anh qua đời vì
căn bệnh AIDS, và lời trăn trối sau cùng là anh muốn tôi
dâng Thánh lễ tại vương cung thánh đường Westminster và
sau đó đưa anh đi an táng. Bấy giờ việc ấy cần dàn
xếp một chút ! Trong lễ an táng, quan tài được đặt
ngay giữa thánh đường, bạn bè của anh vây xung quanh,
nhiều người trong số các bạn anh cũng mang bệnh AIDS.
Tại đây, ở ngay trung tâm biểu tượng của đời sống
Công Giáo tại Anh quốc, chính là thân thể của một
người, tượng trưng cho nhiều sự loại trừ khác, như
mắc bệnh AIDS, hay đồng tính luyến ái và chết. Chính
vào giờ phút ấy, chúng ta có thể thấy sự thánh thiện
chói ngời của Thiên Chúa hiển linh.
Cái nhìn về chức linh mục
này chủ yếu có tính cách truyền giáo, vươn ra bên
ngoài. Thế có nghĩa là phục vụ cộng đoàn Kitô giáo
không thể là thừa tác vụ của các linh mục để rồi
loại trừ mọi thừa tác vụ khác. Tuy nhiên, số linh mục
càng giảm sút, thì giáo phận càng phải tìm cách giải
phóng một số người trong chúng ta để dành cho các hình
thức vươn rộng ra bên ngoài khác, sao cho những người
không bao giờ đến gần một Nhà Thờ có thể được
đụng chạm tới và được tiếp đón. Và khi thừa tác
vụ của ai là chăm lo cho một giáo xứ, thì cộng đoàn
giáo xứ ấy phải là một cộng đoàn truyền giáo theo
một nghĩa nào đó, phải được hướng ra bên ngoài giáo
xứ của mình.
Sự thánh thiện của chức
linh mục đây không có nghĩa là nhất thiết chúng ta phải
có một đời sống luân lý trổi vượt hơn bất cứ ai
khác. Đây là điều đối chọi với người chủ trương
ưu tuyển. Điều đó diễn tả tính cách vươn xa chấp
nhận tai tiếng của Thiên Chúa khi Người đến với những
con người đang ở bên bờ vực thẳm. Việc này hàm súc
một sự trục trặc nào đó về mặt xã hội đối với
các linh mục thừa tác. Chúng ta không có một vị trí nào
rõ rệt trong đẳng cấp xã hội cả. Chúng ta là những
con người khó xếp loại, sống chung trong nhà, bình đẳng
với nhau, dù là các công tước hay là phu quét rác cũng
thế. Chúng ta phải là hiện thân cho một tính cách bao
gồm mà xã hội chúng ta hiện nay không thể thấu hiểu
trọn vẹn được. Tính cách bao gồm này qui tụ mọi
người trong xã hội, chẳng kỳ ở bên trong hay ở bên lề
xã hội. Đức hồng y Daniélou đã gục chết ngay trên cầu
thang khi người trên đường đến thăm một cô gái điếm.
Bấy giờ tôi đang là sinh viên ở Paris. Báo chí thổi
phồng sự việc, nói cạnh nói khoé đủ điều. Nhưng
theo tôi nhận xét, người vừa là một con người thánh
thiện vừa là một linh mục tốt lành. Trên đường, đó
là chỗ tuyệt đẹp để một vị Hồng y chết.
Có khi chúng ta ăn mặc theo một
kiểu cách khá kỳ quặc mà vẫn cho là phù hợp, và thỉnh
thoảng có khi chúng ta mặc váy đầm khi những người đàn
ông khác đã bỏ đi từ năm trăm năm rồi. Nói điều ấy
ngụ ý là chúng ta cũng cần ngồi nghiêng về phía những
cơ cấu bình thường. Nói điều này, tôi nhớ đến một
người anh em người Mỹ của chúng tôi. Cũng như nhiều
người Mỹ gốc Ái nhĩ lan khác, tên thánh của anh có kèm
theo danh của Đức Mẹ. Anh oang oang trong phòng chung về
các linh mục ngày nay, về mọi người lập dị, về những
người đồng tính luyến ái, và Chúa biết còn điều gì
nữa. Thế rồi có một người anh em hỏi anh : “Này, thế
tên của anh là Mary và anh lại đang mặc váy trắng đó.
Vậy cái gì làm cho anh nghĩ rằng anh là bìnhh thường”.
Đây là một chiều kích cần
phải đưa vào trong cuộc bàn luận của chúng ta về vấn
đề linh mục có được lập gia đình hay không. Tôi cho
rằng các lý lẽ bênh vực việc giáo sĩ lập gia đình
đang là cực kỳ mạnh mẽ, nếu không muốn nói là khó
có thể chống lại được. Nhưng có lẽ điều tôi tiếc
nhất chính là một linh mục lập gia đình có thể là
thành phần của hệ thống xã hội rõ hơn. Có thể có
một áp lực khiến linh mục ấy phải có một lối sống
rõ rệt xếp mình vào một chỗ nào đó trong cấp bậc xã
hội, vì nền giáo dục con cái của linh mục ấy đang
theo, và nơi mà chúng đến vào ngày nghỉ hoặc những
ngày khác. Có thể sẽ khó hơn cho vị linh mục ấy khi
phải làm hiện thân cho tính cách bao gồm của Nước
Trời. Đây không phải là lập luận quyết định nhằm
duy trì đời sống độc thân, nhưng cần được ghi nhớ.
Vậy liệu cái nhìn như thế về chức linh mục có đóng
góp gì cho việc tranh luận về việc cho phụ nữ làm linh
mục hay không? Nếu như tôi có lạc đề, thì tôi chỉ có
ý nói rằng tôi được yêu cầu nói về đề tài những
người đàn ông đang chán nản vì lẽ họ là linh mục,
chứ không phải đề tài những người phụ nữ chán nản
vì lẽ họ không phải là linh mục !
Tôi đang nói rằng linh mục
thừa tác được mời gọi để là hiện thân ngay trong
cuộc đời của mình và là tầm tay với rộng của Thiên
Chúa cho toàn thể nhân loại đang tản mác. Điều này làm
cho người ta vượt qua được cái nhìn chia cắt giữa
những người coi chức linh mục là thể hiện cái là, với
những người coi chức linh mục là thể hiện cái làm.
Mọi việc chúng ta làm với tư cách là linh mục thừa tác
phải diễn tả và trở thành hiện thân cho sự thánh
thiện của Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Kitô, biến
đổi người bên ngoài thành người bên trong, sự chết
thành sự sống, và buồn phiền thành phấn khởi vui tươi.
Thế thì một linh mục phải
sống ơn gọi này như thế nào, đặc biệt trước những
cuộc khủng hoảng của Hội Thánh và của xã hội? Hôm
nay tôi xin tập trung chú ý vào một số thách đố mà
chúng ta đang đối diện khi sống vai trò này trong tương
quan với cộng đoàn địa phương. Còn ngày mai tôi sẽ
nói đến chuyện chúng ta sống vai trò này thế nào trong
tinh thần liên đới với Hội Thánh rộng lớn hơn, với
tất cả những khủng hoảng Hội Thánh lúc này đang phải
trải qua.
Vào lúc chấm dứt chiến
tranh, anh Michael Hollings cảm thấy mình được ơn gọi làm
linh mục, thế là anh đến gặp linh mục tuyên úy trung
đoàn của anh ngày trước. Cha thuộc Dòng Biển Đức. Cha
tuyên úy hỏi anh tại sao anh lại muốn làm linh mục.
Michael trả lời : “Để giúp đỡ con người”. Cha lại
hỏi : “Thế anh không coi Thánh lễ là trung tâm điểm
của căn tính linh mục sao”. Anh đáp đơn giản rằng
không, anh chỉ muốn giúp đỡ con người mà thôi. Cha
tuyên uý cảm thấy choáng váng vô cùng. Cảm tưởng của
tôi là đời sống tâm linh của các linh mục thuộc giáo
phận phải bắt rễ sâu trong đời sống giáo dân cái đã.
Giám mục Untenor, Hoa Kỳ, có viết rằng : “Các linh mục
giáo phận thuộc về cộng đoàn môn đệ Đức Giêsu
Kitô. Chúng ta đang đối diện với cùng những cuộc chiến
đấu như bất kỳ người người giáo dân nào đang phải
đối diện, và chúng ta đang sống trong cùng một thế
giới họ đang sống”.
Hiểu
theo nghĩa sâu sa nhất, đấy chính là linh đạo giáo dân,
một linh đạo với và cho dân, laos.
Ngày xưa, tôi cho rằng linh mục hạng nhất là linh mục
Dòng. Hình như có cái gì đó hơi mâu thuẫn giữa từ ngữ
“triều (secular)” với từ “Linh mục” – làm như
thể linh mục triều hoàn toàn thuộc về bậc linh mục.
Thế nhưng nếu chúng ta chấp nhận thần học trong Thư
gửi tín hữu Híp-ri, chúng ta sẽ nhận thấy chức linh
mục chính là vòng tay của Thiên Chúa ôm trọn lấy cái
thuộc về đời, thế tục, ôm trọn lấy cái thuộc về
giáo dân. Thực thế, vị thượng tế cao cả của chúng
ta là một người giáo dân. Là linh mục triều, như thế
là diễn tả điều chính yếu, điều nằm ở trọng tâm
của mọi chức linh mục. Có lẽ chính những tu sĩ chúng
tôi mới là những câu chuyện tư tế cũ kỹ dư thừa,
chức linh mục của chúng tôi mới cần phải được giải
thích, cắt nghĩa. Khám phá ra điều này sau ba mươi năm
làm linh mục trong Dòng Đa Minh, tôi thấy cũng khí muộn !
Nếu như linh đạo này tiên
vàn hướng trọn về cuộc sống với giáo dân, thì chính
nơi đây các linh mục triều, và thường cả các linh mục
dòng nữa, chúng mình sẽ cảm nghiệm được niềm vui vô
cùng lớn lao, nhưng cũng không kém những đau đớn sâu
sắc, và thậm chí còn chán nản nữa là đàng khác. Tôi
chỉ xin được lược qua ba điểm nhạy cảm nhất : những
khó khăn trong việc lãnh đạo, thất bại thường xuyên
nơi giáo xứ trong việc xây dựng thành những cộng đoàn
như mình mong ước, và sau cùng là nỗi đau khi sống đời
linh mục quá ư là gần gũi với quá nhiều thất bại và
bi kịch của con người.
Lãnh đạo
Nhiều tác phẩm văn chương
thần học hiện đại nói đến người linh mục trong vai
trò lãnh đạo. Tôi phải thú nhận rằng tôi cảm thấy
không thoải mái về điều này. Trước tiên vì, như tôi
đã trình bày trên, tôi nghĩ rằng ý tưởng phục vụ
không dễ gì đi đôi với ý tưởng lãnh đạo. Làm thế
nào ta có thể vừa là người tôi tớ vừa là người
lãnh đạo của Dân Thiên Chúa? Sự căng thẳng này có thể
làm cho mối tương quan chúng ta với những người mà
chúng ta cộng tác bị xáo trộn. Người ta thích thú với
ý tưởng cho rằng linh mục có ở đó là để phục vụ,
thế nhưng có thể họ hơi ngỡ ngàng một chút khi điều
ấy thường có nghĩa là để bảo họ phải làm điều
này điều nọ !
Thế nhưng sâu xa hơn, từ ngữ
này khiến tôi nghĩ đến thế giới quản trị kinh doanh.
Người ta mong người lãnh đạo là người có khả năng
và quyết đoán, không được tỏ ra yếu kém hoặc lưỡng
lự, phải dám đưa ra những quyết định táo bạo. Trên
hết, lãnh đạo thường được đánh giá tuỳ theo những
thành công và thắng lợi, vượt chỉ tiêu. Nhưng chức
linh mục thì lại không có liên can gì đến thành công và
thắng lợi. Thường thì chúng ta nhận thấy mình không
thắng lợi mấy. Nếu chúng ta có cho mình là những người
lãnh đạo, có lẽ chúng ta sẽ cảm nghiệm thấy rằng
mình thất bại nhiều. Và những người của chúng ta, vốn
đang sống và làm việc trong một thế giới của quản
trị kinh doanh – ấy là giả như họ đang may mắn có một
việc làm – sẽ không đến với chúng ta vì hy vọng có
thể tìm được nơi giáo xứ cùng những giá trị như họ
đang sống nơi sở làm nữa. Tuy nhiên, từ “lãnh đạo”
ấy đã trở nên quá quen trong Hội Thánh, thậm chí cả
trong đời tu nữa rồi. Tôi cứ luôn bị hỏi xem tôi đã
“ở trong vai trò lãnh đạo” được bao lâu. Thường
tôi trả lời : “Chưa bao giờ cho tới nay”.
Nhưng thư gửi tín hữu Híp-ri
có thể cho chúng ta một cái nhìn vai trò lãnh đạo có
tính cách tư tế, cũng như có thể đem đến cho chúng ta
một mối tương quan với con người, mà không hề có tính
cách thống trị cũng không làm cho chúng ta cảm thấy thất
bại. Đức Giêsu chính là người tiên phong của đức tin
chúng ta, “Người đã mở cho chúng ta một con đường
mới và sống động qua bức màn, ” (Hr 10,20). Người đi
trước chúng ta bước vào trong sự hiện diện của Thiên
Chúa. Đức Giêsu lãnh đạo bằng cách đi trước, đi đầu,
đi bước trước.
Vai trò lãnh đạo của chúng
ta được thể hiện bằng cách trở nên những con người
dám sẵn sàng đi bước trước : bằng cách mở rộng vươn
xa đến những người bị loại trừ và những người bị
gạt ra bên lề xã hội, bằng cách cống hiến và xin sự
tha thứ. Trong dụ ngôn đứa con hoang đàng, sự hoà giải
hoàn tất vì cả người con thứ lẫn người cha đều đi
bước trước theo những cách khác nhau. Đứa con đi bước
trước là lên đường về nhà, còn người cha khi nhìn
thấy con mình từ xa, ông cũng đi bước trước là đi ra
đón đứa con của mình.
Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II
của chúng ta đã cho chúng ta thấy điều ấy có nghĩa là
gì khi người ra đi gặp các anh em Chính Thống, Do Thái và
những người theo đạo Hồi, sẵn sàng chấp nhận nguy cơ
bị từ khước. Người đã đi bước trước là xin được
thứ tha những tội lỗi của Hội Thánh, cho dù có sự
chống đối bên trong Vatican. Đấy mới là lãnh đạo. Cho
nên, đối với chúng ta, là những người lãnh đạo không
có nghĩa là đòi chúng ta phải có toàn tài toàn năng,
không đòi chúng ta phải là những con người quyết đoán
biết bảo cho những người khác biết họ phải làm gì.
Lãnh đạo ở đây đòi chúng ta dám đi bước trước đến
gặp những con người, dù là để tiếp đón những người
có thể không ưa chúng ta, để gọi mời người ta làm
nhiều hơn là họ tin rằng họ có thể, để tha thứ và
xin được thứ tha. Điều này có thể làm cho chúng ta lạc
lõng đấy. Theo hướng này, việc lãnh đạo đích thực
có thể dẫn chúng ta tới nơi cô đơn của thập giá.
Có lẽ theo đạo đức toàn
cầu của thị trường, việc lãnh đạo của chúng ta sẽ
là dám để cho cái mặt nạ hiệu năng rơi xuống, hầu
đối diện với những giới hạn và thất bại của bản
thân chúng ta mà không hề hãi sơ. Chúng ta có thể đi
trước trong việc đối diện với chính tính mong manh của
chúng ta mà không hề hoảng sợ. Lãnh đạo tiên vàn có
nghĩa là đi bước trước vào tính cách khả dĩ thương
tổn. Lãnh đạo đích thực đem lại cho chúng ta một niềm
vui tuôn tràn và tự do để cho rơi xuống những bộ mặt
nạ nặng nề, tức là cho mình là giỏi giang, là hiểu
biết, là người mạnh mẽ kiên quyết, lẽ ra phải được
hội đồng quản trị trả lương cao, ấy là giả như
Chúa gọi chúng ta vào làm trong BP (Bristish Petroleum: công
ty dầu lửa Anh Quốc) thay vì làm linh mục !
Giáo xứ là cộng đoàn
Có những lãnh vực khác có
thể chúng ta phải đối diện với thất bại và chán
nản, đó là khi nỗ lực kiến tạo cộng đoàn giáo xứ.
Khi tôi gặp Hội Đồng phụ trách Hội Nghị Các Linh Mục
Toàn Quốc, một linh mục chia sẻ tâm trạng thất vọng
chán chường của mình vì giáo xứ của cha cứ hay được
coi như cây xăng hơn là một cộng đoàn đích thực. Người
ta chỉ tạt qua một chút để dự cho xong Thánh lễ hơn
là qui tụ xung quanh bàn thờ làm thành Dân Thiên Chúa. Các
giáo xứ không phải lúc nào cũng là những cộng đoàn
đẹp đẽ như chúng ta đọc thấy trong những cuốn sách
thần học. Ban phụng vụ giáo xứ đã chuẩn bị một bữa
tiệc thịnh soạn, nhưng nhiều người lại chỉ muốn
dùng bữa ăn nhẹ vào buổi trưa trước khi về nhà thực
sự mừng bữa ăn trưa Chúa Nhật. Điều này chẳng đáng
ngạc nhiên. Trong thành thị hiện đại, thì giáo xứ theo
lãnh thổ không căn cứ vào bất cứ cảm thức tự nhiên
nào về cộng đoàn. Linh mục có thể coi giáo xứ là cộng
đoàn chính, nhưng phần lớn người ta lại xếp giáo xứ
vào cuối danh sách những nơi họ thường lui tới, sau nhà
của mình, sau các câu lạc bộ bóng đá, sau trường học
của con em và sau nơi làm việc. Điều này có thể làm
cho các linh mục phụ trách giáo xứ mang cảm giác rằng
mình thất bại. Thất bại trong việc qui tụ giáo dân
quanh bàn thờ. Thất bại trong việc xây dựng một cộng
đoàn Thánh Thể.
Trách nhiệm của tôi không
phải là để ý đến tương lai của giáo xứ theo lãnh
thổ và tìm những phương cách thay thế. Tôi chỉ muốn
nêu lên một điểm đơn giản, đó là bất kỳ một cộng
đoàn nào chúng ta nỗ lực gầy dựng tại đây thì luôn
luôn có một cái gì đó thất bại, vì Vương Quốc của
Thiên Chúa chưa đến. Mỗi một cộng đoàn Kitô hữu,
chẳng kỳ đó là một giáo xứ, một tu viện Đa Minh hay
Hội Legio Mariae, đều là biểu tượng của cái gì thiếu
sót và rạn nứt cho một cộng đoàn chúng ta mong mỏi, đó
là Vương Quốc của Thiên Chúa. Giả như có một giáo xứ
nào quá ư là thành công, thì chúng ta có thể bị sai lầm
vì nghĩ rằng Vương Quốc ấy đã đến rồi, và linh mục
chính xứ là Đấng Mêsia.
Kiểu mẫu tụ họp cộng đoàn
Kitô giáo chính là cộng đoàn ở ngay trong Bữa Tiệc Ly.
Thử nghĩ xem cộng đoàn ấy bi đát như thế nào : một
trong các môn đệ bán Đức Giêsu, người khác thì sắp
chối Người, những người còn lại thì trốn hết. Đức
Giêsu đã thất bại trong việc qui tụ họ thành một cộng
đoàn vào cái đêm sau cùng ấy, cho nên chúng ta đừng lấy
làm lạ khi chúng ta làm không khá hơn Đức Giêsu. Những
gì Đức Giêsu đã làm, đó là cống hiến bí tích của
cộng đoàn, dấu chỉ Vương Quốc sẽ đến như một quà
tặng vào đúng lúc. Nếu giáo xứ không phải là một
cộng đoàn tuyệt vời và sống động, thì có lẽ đó
không phải là dấu cho thấy cá nhân chúng ta thất bại.
Đôi khi chúng ta không thể làm gì hơn là nêu lên những
dấu chỉ cho điều sẽ phải đến.
Hồi còn là một sinh viên Đa
Minh trẻ tại Oxford, tôi đã tới văn phòng tuyên uý gặp
cha Michael Hollings. Chẳng may cha vừa đuổi tôi ra vừa
mắng cho một trận vì cha không thích tu sĩ Dòng ! Sau đó
vài năm, tôi bỗng hiểu ra và cảm phục cha. Bất cứ nơi
đâu cha tới, cha đều để cửa mở, ở Oxford, Southall và
ở Bayswater. Có lần cha bắt được quả tang một anh
chàng ăn trộm, cha đã mời anh ta ở lại uống trà. Tôi
biết mình không bao giờ có thể bắt chước được một
lối sống như thế, những tôi thán phục lối sống ấy
vì đấy chính là một dấu chỉ cho thấy Vương Quốc
vậy. Lối sống ấy không phải là Vương Quốc, ít là
tôi không mong như thế ! Nhưng đấy chính là dấu chỉ
Vương Quốc ôm lấy hết mọi người. Bản thân chúng ta
không thể xây dựng được cộng đoàn ấy chỉ với
những điệu bộ hướng về đó. Cộng đoàn ấy sẽ đến
như là một quà tặng đầy bất ngờ.
Hồi tháng ba, tôi đang ở
Cairo, và có đến thăm một nơi trong thành phố du khách
hiếm khi tới tham quan, đó là Mukatan. Đây là thành phố
của những con người thu gom rác. Họ có khoảng 300.000
người, và phần lớn là Kitô hữu. Ban sáng, họ ra đi
thu gom rác của thành phố đem về Mukatan lựa ra xem cái
gì có thể bán được hoặc tái chế. Đó đúng là nơi
bẩn thỉu, hôi thối và ảm đạm nhất tôi được chứng
kiến. Người dân có vẻ nửa sống nửa chết. Ngay những
đứa bé đang đá banh trên đường cũng di chuyển một
cách chậm chạp, thiếu sinh khí, cứ như những ông cụ
non vậy. Đằng sau nơi khủng khiếp này là những vách đá
cao vút. Và có một họa sĩ Ba Lan đã dành trọn cuộc đời
để phủ lên các vách đá ấy những hình ảnh của Đức
Kitô vinh quang. Khi những người thu gom rác trở về nhà
bằng chiếc xe lừa, mang theo một lô những cái túi những
cái bao hôi hám, họ có thể nhìn thấy trên những vách
đá ấy Đức Kitô biến hình, phục sinh và lên trời.
Những hình ảnh này công bố lên rằng họ không chỉ là
những người thu gom rác, nhưng còn là những công dân của
Vương Quốc nữa, và đang trên cuộc hành trình đi tới
vinh quang. Họ sống được nhờ các dấu chỉ.
Đối diện với tội lỗi
và thất bại
Linh mục là người mang tin vu,
tin mừng. Đây là lý do vì sao sự chán nản lại hủy
hoại ơn gọi chúng ta một cách ghê gớm. Sẽ chẳng còn
ai tin chúng ta nữa nếu chúng ta trông có vẻ khổ sở.
Thế nhưng thường vai trò của linh mục là mang tin vui này
đến cho những con người có cuộc sống đang bị nỗi
tuyệt vọng và sự thất bại động chạm đến. Tony
Philpot viết rằng : “Linh mục giáo phận, có liên quan
một cách công nhiên với sự thất bại. Dĩ nhiên có sự
thất bại của riêng bản thân vị ấy, nghĩa là biết
tội lỗi của bản thân mình. Tuy nhiên, cũng có sự kiện
là Tin Mừng luôn nói về ơn tha thứ tội lỗi, và ơn gọi
của linh mục ấy là liên đới với tội lỗi của đoàn
chiên mình. Thất bại là nguyên liệu thô sơ sẽ được
vị linh mục ấy dùng để chế biến”.
Trong xã hội chúng ta, linh mục
cũng phải đối diện với mọi yếu nhược và đau đớn
của xã hội, trong đó việc đổ vỡ các cơ cấu xã hội
và vấn đề tục hóa muốn nói lên rằng nhiều người
đang phải giáp mặt với sự mất ý nghĩa sâu sa trong
cuộc đời của họ. Vậy chúng ta có thể thu xếp như
thế nào để vẫn mãi là người phấn khởi mang tin vui
trrong khi chúng ta vẫn đang phải chứng kiến quá nhiều
những gia đình đổ vỡ, những người trẻ bị hư hỏng,
chơi ma tuý và chứng kiến sự chiến thắng của một nền
văn hóa muốn tầm thường hóa tất cả?
Hẳn
nhiên, đường lối đệ nhất chúng ta theo để thực hiện
điều trên chính là qua việc cử hành năm phụng vụ. Đây
là câu chuyện trong đó gồm đủ cả : khổ đau có, thất
bại nhục nhằn có, tội lỗi lưu đày cũng có. Và câu
chuyện này đẩy chúng ta đi thật xa, vượt qua tất cả
những tình cảnh ấy để tiến đến Vương Quốc. Năm
nào chúng ta cũng được đưa ra khỏi đất Ai cập và
thực hiện cuộc hành trình tiến về Đất Hứa. Chúng ta
khởi hành vào mùa Vọng và được đưa đi qua mùa Giáng
Sinh, rồi từ mùa Chay tới mùa Phục Sinh, qua đến lễ
Hiện Xuống, và sau cùng tới lễ Đức Kitô là Vua vũ
trụ. Chúng ta chia sẻ tâm trạng chán nản, suy sụp tinh
thần của dân Israel trong hoang địa, và của cả con cháu
hậu duệ dân Israel trong cuộc Lưu đày ở Babylone, và
chúng ta được đưa đi xa hơn nữa để vượt qua tất
cả. Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu nói với các môn đệ
rằng : “Bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại
anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em,
không ai lấy mất được” (Ga
16,22). Hàng năm, chúng ta vẫn sống câu chuyện biến đổi
nỗi buồn thành niềm vui.
Tuy nhiên, trả lời như thế
cũng vẫn chưa đủ. Dù có chu kỳ hàng năm như thế, một
số linh mục vẫn còn cảm thấy nặng gánh và chán nản.
Thật vậy, chu trình cứ được diễn tiến hàng năm như
thế đưa dẫn chúng ta tiến về Đất Hứa, nhưng chỉ
khi nào chúng ta đang tiến vào và biết nghỉ ngơi, thì
lúc đó chúng ta mới có thể khởi sự lại tất cả
được. Chúng ta có thể thấy năm phụng vụ như con rắn
uốn khúc hay như những bậc thang : chúng ta đi dần đến
lễ Đức Kitô là Vua vũ trụ, và rồi chúng ta lại lướt
qua trọn con đường chúng ta đã đi để bắt đầu lại
một lần nữa. Cho nên, suốt hành trình mãi mãi lập đi
lập lại này, đôi lúc cũng cần phải thoáng thấy cái
điểm tới của cuộc hành trình này ngay từ bây giờ.
Ngay từ bây giờ, chúng ta cũng cần phải tận hưởng,
như thể nếm trước, niềm vui và bình an chúng ta sẽ tận
hưởng dứt khoát trong Vương Quốc. Chúng ta cũng phải
sống ngay từ bây giờ thế nào để Dân Thiên Chúa thấy
được một chút xíu điểm tới của chuyến đi. Chúng ta
không được chờ cho tới khi nào mình chết mới được
sống, mới được hưởng vinh phúc. Mặt khác, tại sao
lại bắt người ta phải tin rằng chúng ta đang đi, mà
lại không tới một nơi nào cả ? Giai điệu của năm
phụng vụ sẽ như có cái gì trục trặc ngày hôm qua,
trục trặc ngày mai, nhưng không bao giờ trục trặc ngày
hôm nay cả.
Vì
thế tôi tin rằng nếu linh mục phải là những người
mang tin vui, thì chúng ta cần phải có một lối sống
trong đó sự vĩnh cửu đang được mở toang ra ngay từ
bây giờ. Chỉ làm sao tồn tại được bây giờ thôi chưa
đủ. Chúng ta cần phải triển nở nữa. Chúng ta mỗi
người phải tạo nên một lối sống thực sự mang đến
cho chúng ta sự sống, sống với sự cảm nếm trước vị
ngọt của đời sống vĩnh cửu. Nếu không, chúng ta sẽ
bị những u sầu phiền muộn của thời đại này đè
bẹp, hoặc chịu thua nền văn hoá muốn làm cho mọi cái
ra tầm thường của thời đại này. Thuở đầu, tên gọi
đời sống Kitô giáo là “Con Đường”, “Đạo”.
Chúng ta cần tỏ cho thấy đó là con đường có nơi đến,
chứ không chỉ là con đường đi loanh quanh luẩn quẩn
trong hoang địa mênh mông.
Còn một vấn đề lớn là làm
thế nào người linh mục có thể hình thành được một
lối sống như thế. Một số linh mục giáo phận bảo tôi
rằng các tu sĩ thì dễ nói về một lối sống, nhất nữa
khi các tu sĩ ấy lại không phải là những linh mục phụ
trách giáo xứ. Chúng tôi có tu luật để theo đó mà
sống. Chúng tôi sống trong các cộng đoàn, và chúng tôi
có thể làm chủ cuộc sống của chúng tôi nhiều hơn là
những linh mục đang phải túc trực chờ để cho giáo dân
đến và làm những gì họ yêu cầu, và có thể chẳng
bao giờ đoán trước được mỗi ngày sẽ diễn ra những
bi kịch nào. Các linh mục khác thì từ chối điều này
và cho rằng linh mục có thể và phải dành thời giờ để
cầu nguyện, nghỉ ngơi và tự trau dồi nữa. Các linh mục
khác nữa thì cho rằng chuyện này có thể được nếu
như Đức giám mục đương đầu với những khủng hoảng
do thiếu linh mục và hành động can đảm. Bây giờ tôi
xin anh em suy nghĩ xem mình có thể định hình cuộc sống
của mình như thế nào để, ngay bây giờ, người ta có
thể thoáng nhìn thấy nơi cuộc sống của chúng ta những
hoa trái đầu mùa của công trình sáng tạo mới : tự do,
bình an và niềm vui.
Tôi trực giác thấy là chúng
ta có thể công bố tự do ấy để định hình nên một
lối sống sinh động thực sự. Cũng như Đức Giêsu, anh
em được trao phó vào tay của mọi người rồi. Cũng như
Đức Giêsu, anh em đã vô cùng liều khi hiến dâng cuộc
đời mình cho con người một cách tự do. Khi Đức hồng
y Bernadin được phong làm Tổng giám mục Chicago, người
nói với giáo dân rằng : “Vì nhiều năm tôi đã được
nhận rồi, nên bây giờ tôi sẽ hiến dâng cuộc đời
của tôi cho anh chị em. Tôi dâng hiến anh chị em sự phục
vụ và lãnh đạo của tôi, tất cả năng lực của tôi,
mọi ân huệ của tôi, tâm trí tôi, sức mạnh tôi, và cả
những giới hạn của tôi nữa. Tôi hiến dâng bản thân
tôi cho anh chị em trong đức tin, trong niềm hy vọng và
tình yêu thương”.
Quà tặng đây là chính bản
thân mình, giống như Thánh Thể : “Này là mình Thầy,
chịu trao nộp vì anh em”. Tuy nhiên, Đức Giêsu vẫn là
con người tự do nhất, cuộc sống của Người được
định hình bởi sự vâng phục Thiên Chúa Cha. Người đã
hiến dâng bản thân Người vào trong tay chúng ta, tuy thế
Người vẫn không hề là một con rối thụ động bao giờ.
Người đã định hình cuộc đời của Người, Đức hồng
y Bernadin cũng đã làm như thế. Làm thế nào chúng ta có
thể tìm được sự tự do Thánh Thể ấy, để chúng ta
cho đi cuộc đời của chúng ta mà vẫn định hình được
một lối sống trong đó le lói ánh sáng của Vương Quốc
? Đây chính là câu hỏi tôi xin được đặt ra cho anh em.
Chúng
ta cần có một lối sống để thỉnh thoảng chúng ta có
thể nghỉ ngơi, nghỉ ngơi với Thiên Chúa và cũng nghỉ
ngơi với chính mình. Chúng ta cần phải dành ra những
thời khắc để biến đi mà không phải để đi làm việc
gì cả, có thể là mỗi tuần, mỗi tháng hoặc mỗi năm.
Mục đích trước hết của những thời khắc này không
phải là để nhờ nghỉ ngơi, chúng ta có thể thành những
linh mục có hiệu năng hơn, làm việc có hiệu quả hơn
đâu. Trong chuyện này, không hề có gì liên quan đến
quản trị sắp xếp cả. Chỉ vì tin vui chúng ta rao giảng
là mọi người được tập họp lại để nghỉ ngơi với
Thiên Chúa và Ngày Sabát của Người. Đây là Tin Mừng,
là tất cả chúng ta là những công dân của Vương Quốc,
trong đó chúng ta sẽ lang thang dạo mát và sẵn sàng tiêu
phí thời giờ của chúng ta với Thiên Chúa đến muôn năm
vĩnh cửu. Phẩm giá cao trọng nhất của con người chúng
ta là chúng ta được gọi mời đến vui đùa với Thiên
Chúa mãi mãi, vĩnh cửu,
homo ludens (con người
rong chơi). Có ai còn tin chúng ta, nếu như người ta không
bao giờ thấy chúng ta nghỉ ngơi ?
Phần lớn chúng ta vô cùng bận
rộn và chúng ta cũng muốn được thấy như thế. Tôi
cũng thế thôi. Nếu chúng ta muốn là những nhà giảng
thuyết khả tín, thì chúng ta phải biết không sợ để
cho đôi lúc bị coi là lười. Chúng ta phải dám dán lên
cửa nhà thờ dòng chữ : “Trong ba ngày tới, sẽ không
có Thánh lễ. Tôi đang đi nghỉ”. Chúng ta phải chống
lại tiếng nói ma quái ngay trong chúng ta, đang tố cáo
chúng ta là những linh mục tồi. Phải thú nhận rằng về
điểm này tôi quá dở. Tôi đã dùng nhiều thời giờ
nghỉ ngơi để tất bật bù đầu, và nhất là để người
khác cũng thấy tôi bù đầu tất bật. Còn nếu tôi đang
chơi trò chơi nhanh Free Cell trên máy vi tính, tôi sẽ thạo
nghệ thuật tắt nhẹ màn hình khi chợt nghe có ai đó
đang đến, để thay vào đó là bài giảng ngày Chúa Nhật
tới hiện lên ! Thế nên, những ai can đảm sống thời
gian nghỉ ngơi, chính là những người đang đi trên con
đường tin vào quà tặng cứu độ nhưng không và ân sủng
không kiếm mà được.
Cuối cùng, niềm vui của Vương
Quốc phải bùng lên ngay từ bây giờ. Chắc phải thêm
hai bài nữa để nói rộng thêm về niềm vui này, vì thế
xin thứ lỗi cho tôi vì bài hôm nay của tôi quá ngắn.
Khi Đức Giêsu chịu phép rửa, thì nghe có tiếng từ trời
nói rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta vui thích về
Người”. Ở ngay chính giữa đời sống của Ba Ngôi Chí
Thánh chính là niềm vui trọn vẹn nhất của Thiên Chúa,
niềm vui của Chúa Cha trong Chúa Con tức là Chúa Thánh
Thần. Đức Giêsu, Vị Thượng Tế đã ôm trọn tất cả
chúng ta vào trong niềm vui ấy, và chúng ta được đưa
vào niềm vui của chính Chúa Cha trong Chúa Con. Sự thánh
thiện của Thiên Chúa chiếu giãi niềm vui của Người
trong vạn vật đang hiện hữu. Khi Đức Giêsu cùng ăn
uống với những người thu thuế và gái điếm, thì đấy
không phải là một bổn phận. Đấy chính là niềm hân
hoan vui thích được bầu bạn với những người ấy,
trong chính hiện hữu của họ. Khi Người chạm vào những
kẻ không được để cho ai chạm tới, thì đấy chẳng
phải là hành vi trị liệu mà là vòng tay của niềm vui.
Vì thế lối sống này phải
gắn liền với chức linh mục của chúng ta, đến độ
chúng ta vui sướng ngay trong chính cuộc sống của con
người, với tất cả mọi cố gắng loay hoay để sống
và để yêu của họ, dù là họ có gia đình hay đã ly dị
hay còn độc thân, dù họ là nam hoặc nữ hay đồng tính
luyến ái, dù đời sống của họ có hợp với giáo huấn
của Hội Thánh hay không. Sự thánh thiện của chức linh
mục chiếu toả nhờ niềm vui này. Hội Thánh phải là
một cộng đoàn trong đó con người khám phá thấy Thiên
Chúa vui thích về mình. Đây là thừa tác vụ của chúng
ta. Và như thế, chức linh mục phải làm cho chúng ta trở
thành những con người nồng nàn say đắm, say đắm trong
niềm vui thích của chúng ta, say đắm trong nỗi buồn của
chúng ta khi chứng kiến những khổ đau của người khác,
và thậm chí còn nổi giận khi thấy họ bị áp bức. Nếu
chúng ta vui thích về con người, thì chúng ta cũng biết
vui thích về chúng ta. Chúng ta sẽ khám phá ra niềm vui
của Thiên Chúa ngay trong chính chúng ta, do những người
không bao giờ chúng ta ngờ tới đem lại, và ngay cả
những người ấy cũng chẳng ngờ được nữa.
Nếu thực sự niềm vui ngự
trị ở giữa chức linh mục của chúng ta, thì chúng ta sẽ
quan tâm đến hạnh phúc của nhau. Hạnh phúc của các
linh mục phải là mối quan tâm hàng đầu của các giám
mục và của linh mục đoàn giáo phận. Nếu chúng ta thấy
có một linh mục nào phải khổ sở, thì cứ để cho
người anh em ấy tự mình xoay sở lấy là không tốt đủ.
Nếu chính bản thân chúng ta rơi vào tình trạng sầu
buồn, chúng ta không được để vào chủ nghĩa cá nhân
mạnh mẽ nào đó đẩy chúng ta đi. Niềm vui của linh mục
không phải chỉ là mối quan tâm của riêng cá nhân linh
mục, vì đấy là một phần nội tại của việc loan báo
Tin Mừng và là sự biểu lộ sự thánh thiện của Thiên
Chúa. Chúng ta phải dám tìm kiếm niềm vui cho nhau.
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire