Nhân hội nghị của Hiệp hội đời tu của Canada, được
tổ chức ở Québec từ ngày 05 đến ngày 09 tháng sáu năm
2008, cha Timothy Radcliffe, o.p. đã chia sẻ hai bài thuyết
trình về đời tu và một bài giảng trong buổi cử hành
Phụng vụ Kinh Chiều ở Vương Cung Thánh Đường
Sainte-de-Beaupré.
Tôi rất vui mừng được
có mặt ở đây trong dịp kỷ niệm 400 năm thành lập
Québec. Anh chị em mừng sự phong phú của lịch sử của
mình và phần đóng góp lớn lao của người dân Canada và
người Canada cho Hội Thánh khắp nơi trên thế giới. Tôi
đã được đi nhiều nơi và tôi đã khám phá thấy những
Hội Thánh được thiết lập nhờ các nhà truyền giáo từ
Anh quốc và từ Canada tới. Tôi không biết liệu mình có
còn được đón tiếp niềm nở ở đây khi tôi cho anh chị
em biết rắng một trong các vị tổ tiên của tôi đã giữ
một vai trò trong lịch sử của anh chị em. Có một bức
tranh nổi tiếng trình bày cái chết của tướng Wolfe sau
khi người Anh đánh chiếm Québec : người đàn ông đang
cầm lá cờ của Anh là tổ tiên của tôi đấy !
“Được gọi để
làm dấu chỉ cho niềm hy vọng”
Trong khung cảnh cuộc hội
nghị của anh chị em, chắc anh chị em cũng sẽ suy nghĩ
về tương lai. Bây giờ không phải là thời kỳ dễ dàng
đối với đời tu trên phần lớn các lục địa.. Hồi
năm vừa qua, tôi đã được phát biểu trước các hội
nghị của các tu sĩ ở châu Á, châu Mỹ La tinh, châu Phi,
ở Bắc Mỹ và ở châu Âu, và hầu như chỗ nào người
ta cũng đặt ra cùng một câu hỏi : liệu đời tu còn có
một tương lai ? Điều này cũng đúng ở Canada này. Nhiều
hội dòng đang bị đe dọa biến mất. Nhưng ngay danh xưng
Québec lẽ ra đã phải đem lại cho chung ta lòng can đảm
rồi. Danh xưng ấy xuất phát do một từ algonquin để chỉ
một lối đi hẹp, một khe núi. Ngay từ thuở đầu, danh
xưng này đã qui chiếu về chỗ hẹp của con sông, ở
miền thượng Cap Diamant.
Bây giờ đây, chúng ta
đang đi qua một lối đi hẹp, giữa một bên là đồng
bằng mênh mông của con sông ở miền thượng lưu với
biển ở miền hạ lưu. Tôi thiết nghĩ ơn gọi làm tu sĩ
nam nữ của chúng ta giờ đây quan trọng hơn bao giờ hết.
Chúng ta được gọi để làm dấu chỉ cho niềm hy vọng
đối với nhân loại. Là tu sĩ nam hay nữ, chúng ta đều
có thể trải qua một khoảnh khắc trong đó chúng ta có
những nghi ngờ về tương lai của chúng ta, nhưng toàn thể
nhân loại cũng phải đối diện với một khủng hoảng
trầm trọng về niềm hy vọng. Tôi không có ý nói như
thế mọi người tất nhiên là bất hạnh, càng không có
ý bảo đang có một nạn dịch tự tử nơi giới trẻ.
Tôi có ý nói rằng những người đồng thời với chúng
ta không có lấy câu chuyện cưu mang niềm hy vọng liên
quan đến tương lai.
Hồi tôi còn trẻ, cuối
thập niên sáu mươi, tôi những tin sẽ thấy nhân loại
chuyển biến để tiến đến một tương lai huy hoàng
trong đó chiến tranh và nghèo đói sẽ phải kết thúc.
Mọi sự xem ra là khả dĩ như thế. Chúng tôi từng tin ở
sự tiến bộ. Nhóm nhạc Beatles mê hoặc toàn thế giới.
Thậm chí bếp núc của Anh quốc hồi ấy cũng được cải
tiến ! Hôm nay, vào bước đầu của Thiên niên kỷ mới,
chúng ta đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng về
môi trường sinh thái, với sự lan tràn của chủ nghĩa
cực đoan tôn giáo, với chủ nghĩa khủng bố, với nạn
dịch sida, với hố ngăn cách giữa người giàu với người
nghèo càng ngày càng rộng. Nhiều nước ở châu Phi có
nguy cơ sụp đổ. Những câu chuyện nào có thể là những
câu chuyện còn cưu mang niềm hy vọng mà những người
trẻ đang cần dây ? Có câu chuyện về một đại họa
môi trường sắp xảy đến và câu chuyện về cuộc chiến
chống khủng bố. Nhưng chẳng câu chuyện nào trong hai hứa
hẹn tương lai cho những người trẻ cả. Tại nhiều
nước, Canada, Tây ban nha và Italia chẳng hạn, sinh xuất
bị coi là đại họa. Người ta sợ cho ra đời những đứa
trẻ trong một thế giới không có tương lai.
Trong bối cảnh này, đời
tu được gọi để làm một dấu chỉ hy vọng. Đối vối
chúng ta, những tu sĩ nam nữ thì khác, anh chị em cứ yên
tâm, đó không phải là chuyện có những em bé ! Đời
sống lạ kỳ của chúng ta với những lời khấn hứa lại
là một dấu chỉ hy vọng cho nhân loại. Chúng ta là một
mối hy vọng vì chúng ta có một ơn gọi. Ơn gọi này mời
chúng ta đi vào trong cộng đoàn và cộng đoàn cử chúng
ta đi thi hành sứ vụ. Ơn gọi của chúng ta là kỳ diệu
không phải vì chúng ta là những con người kỳ diệu,
nhưng vì ơn gọi là dấu chỉ của niềm hy vọng kỳ diệu
mà chúng ta làm chứng cho toàn thể nhân loại. Vì thế, ở
đây tôi sẽ bàn đến ba cách thế để đời tu của
chúng ta thành dấu chỉ hy vọng : trước hết, vì việc
tuyên khấn của chúng ta ; thứ hai, do sự kiện chúng ta
sống đời sống cộng đoàn, và cuối cùng, cách vắn
tắt, nhờ sứ vụ của chúng ta.
Đáp lại lời mời gọi
của Thiên Chúa với tất cả lòng tin tưởng
Chúng ta bắt đầu bằng
khái niệm về ơn gọi. Tôi đã được lôi cuốn đến
với các anh em Đa Minh vì có lẽ tôi yêu mến sứ vụ của
Dòng này và tôi cũng rất yêu mến những người anh em.
Nhưng nói cho cùng thì như thế chưa đủ. Tôi đã trở
thành người anh em Đa Minh vì tôi xác tín rằng đó là ơn
gọi của tôi. Tôi đã được Thiên Chúa gọi đi theo con
đường Đa Minh.
Nhưng đó là cách để
diễn tả một chân lý còn thâm sâu hơn nữa, tức là mỗi
một hữu thể nhân linh đều được Thiên Chúa mời gọi.
Chính Thiên Chúa là Đấng mời gọi chúng ta đến cuộc
hiện hữu và Người mời gọi chúng ta tìm ở nơi Người
hạnh phúc của chúng ta. Là người tu sĩ, đó là đưa vào
vấn đề nhân loại một xác tín cơ bản và cưu mang niềm
hy vọng. Chúng ta đang trên đường tiến về Thiên Chúa.
Có thể chúng ta chẳng biết tí gì về tương lai của
nhân loại, của những tai ương đại họa và của bạo
lực đang rình rập chúng ta – nhân loại sẽ bị tiêu
diệt vì những trận mưa bom, bị nhấn chìm do mực nước
biển dâng cao, bị nướng cháy vì khí hậu ấm nóng ? –
nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa mời gọi toàn thể
vũ trụ tạo thành này tiến đến với Người.
“Này con đây”
Bất cứ cái gì hiện hữu
cũng là vì Thiên Chúa gọi nó hiện hữu. Thiên Chúa phán
: hãy có ánh sáng, và ánh sáng lung linh soi chiếu. Có một
đoạn văn rất đẹp của ngôn sứ Barúc : “Những
vì sao lấp lánh, vui tươi, mỗi vì nơi trạm canh của
mình suốt đêm trường ; Người gọi chúng ; chúng đáp
lại : ‘Chính tôi đây’”
(Br 3,34). Sự hiện hữu của một vì sao không chỉ thuần
túy là một dữ kiện khoa học trừu tượng. Các vì tinh
tú thưa với Thiên Chúa một tiếng xin vâng đầy vui tươi.
Cuộc hiện hữu của mỗi loài mỗi vật, bất kỳ cuộc
hiện hữu nào, cũng đều là một tiếng xin vâng thưa với
Thiên Chúa.
Có điều lạ lùng khi áp
dụng vào những hữu thể nhân linh, đó là chúng ta không
nói “xin vâng” duy vì sự kiện chúng ta được hiện
hữu. Chúng ta thưa xin vâng với Thiên Chúa nhờ lời nói
cúa chúng ta. Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta, và chúng
ta đáp lại Thiên Chúa bằng lời nói. Chính vì như thế
mà chúng ta đã được sáng tạo nên. Có một từ rất
đẹp trong tiếng Hípri tóm tắt điều ấy : Hineni.
Có nghĩa là : này, con đây. Khi được Thiên Chúa từ bụi
gai rực lửa lên tiếng gọi, ông Môsê thưa : Này, con
đây. Khi Thiên Chúa gọi ông Ápraham để ông hiến tế
con mình là Isaác, ông Ápraham thưa : Này, con đây. Khi ngôn
sứ Isaia nghe một tiếng có ý hỏi : “Ta sẽ sai ai đi
?”, ông thưa : “Này, con đây. Xin cứ sai con”. Nhưng
khi Thiên Chúa gọi ông Ađam trong thửa vườn, con người
ấy không thưa “này, con đây” ; con người ấy lại đi
nấp vào sau bụi cây.
Chính chân lý ấy trong ơn
gọi của con người là điều chúng ta diễn tả ra khi
chúng ta tuyên khấn. Chúng ta đặt bản thân mình vào tay
những người anh em và những người chị em của chúng
ta, và chúng ta nói lên tiếng xin vâng quyết liệt của
chúng ta. Này, tôi đây. Đó là một cái gì còn hơn cả
việc chấp nhận tuân phục một tu luật. Đó là một cái
gì còn lớn hơn là việc dấn thân sống theo một nếp
sống, một kiểu sống. Đó chính là một dấu chỉ minh
nhiên nói lên ý nghĩa của việc là một hữu thể nhân
linh.
Mời gọi lẫn nhau
Đàng khác, chúng ta không
chỉ nói xin vâng lúc chúng ta tuyên khấn. Tất cả cuộc
đời của mình, chúng ta tiếp tục được kêu gọi bởi
những người anh em và những người chị em của chúng
ta, khi chúng ta được mời thi hành một phận vụ trong
cộng đoàn, làm người quản lý, làm giám sư tập sinh,
hay làm tu viện trưởng. Chúng ta mời gọi nhau. Sự tuân
phục của chúng ta là một sự tuân phục có tính cách hỗ
tương. Và đây không phải chỉ là vấn đề nhằm tổ
chức làm sao cho sứ vụ của Dòng được kiến hiệu.
Nhưng đây là sự ưng thuận liên tục chúng ta dâng cho
Thiên Chúa : Hinneni,
này con đây !
Chúng ta phải mời gọi
nhau sẵn sàng can đảm và tiến đến sự tự do, mời gọi
nhau làm những chuyện bình thường có lẽ chúng ta không
dám làm. Những người anh em và những người chị em của
chúng ta có đó để mời gọi chúng ta vượt qua nỗi sợ
hãi, khi chúng ta cảm thấy mình bị tê liệt và bị đóng
băng.
Ngày kia, tôi đang đi dạo
với các anh em tôi ở Ecosse, chúng tôi đi tới một vách
núi ở đấy không còn thấy con đường mòn nữa. Phải
vừa đi tới vừa dò dẫm dọc theo một lối đi nhỏ ven
núi. Quả là khiếp hãi khi anh thấy mình như bị treo lơ
lửng giữa ngọn núi cao với những lớp sóng biển ở
mãi tít bên dưới. Khi tới được đầu bên kia, chúng
tôi mới nhận ra người anh em tên là Gareth không có mặt.
Chúng tôi không hề biết rằng anh đã chóng mặt. Một
người trong chúng tôi lại phải men theo con đường trở
lại để tìm anh : anh như bị tê liệt vì quá sợ hãi.
Người anh em đã phải nói với anh : “Gareth, cậu bám
tay vào đây này, cậu sẽ đi được một mét. Được
rồi, bây giờ bước chân kia lên”. Cứ như thế cuối
cùng Gareth gặp lại chúng tôi. Trong bất kỳ cuộc chu du
nào chúng ta thực hiện chung với nhau trong cộng đoàn,
chúng ta đều mời gọi nhau, và thật ra chính tiếng của
Thiên Chúa mời gọi mỗi người chị em và mỗi người
anh em chúng ta tiến đến sự tự do và can đảm, trong khi
chúng ta không biết những gì đang chờ đợi chúng ta trên
đường, ở khúc quặt sắp tới. Đúng là liều, là phó
mặc. Chúng ta cần học biết tin tưởng vào tiếng đang
gọi chúng ta.
Như thế cũng giống như
anh chàng vừa đang lái xe dọc theo lưng đèo vừa thắc
mắc không biết Thiên Chúa có hiện hữu hay không. Thắc
mắc như thế làm cho anh lái xe chia trí vô cùng đến nỗi
anh quên mất con đường và để cho xe rơi xuống vực.
Anh văng ra khỏi xe. Đang khi rơi xuống vực, anh may phúc
móc vào một cành cây. Ngay lập tức, vấn đề đức tin
kia đã trở thành khẩn cấp và anh bắt đầu la lên : “Có
ai trên đó không ?”. Một lát thì có tiếng vọng lên :
“Có đây, tôi đây. Cứ bình tĩnh. Buông cành cây ra, cứ
thả tay ra, tôi sẽ đỡ anh”. Chàng lái xe suy nghĩ một
lát trước khi lại la lên : “Thế không có ai ở trên
đấy à ?”.
“Sống điều không
chắc chắn trong niềm vui”
Dấu chỉ vĩ đại của
Kitô giáo về niềm hy vọng, chính là Bữa Tiệc Ly. Đức
Giêsu đặt bản thân Người vào tay những người môn đệ
mong manh yếu đuối của Người. Thiên Chúa đã dám để
cho mình bị thương tổn và đem chính mình làm quà tặng
cho những kẻ sắp phản bội Người, sắp chối Người
và bỏ rơi Người. Trong đời tu, chúng ta cũng đón lấy
cùng một nguy cơ như thế. Chúng ta tin tưởng những người
anh em và những người chị em mong manh yếu đuối, không
biết anh em chị em chúng ta sắp làm gì cho chúng ta. Chúng
ta cũng đặt bản thân mình vào trong tay cả những con
người chưa chào đời mà một ngày kia sẽ là những
người anh em chị em của chúng ta. Tu viện trưởng của
tôi ở Oxford chào đời khi tôi vào Dòng đã được năm
năm ! Mà cả hôm nay nữa, sau hơn bốn mươi năm sống
trong đời tu Đa Minh, tôi thực vẫn không biết những
người anh em của tôi sắp đòi hỏi tôi điều gì.
Chúng ta được mời gọi
sống sự không chắc chắn ấy trong niềm vui. Hạt giống
cho ơn gọi tu trì của tôi có thể là niềm vui bất ngờ
của một ông cậu là đan sĩ Biển Đức. Bị thương nặng
trong Thế Chiến Thứ Nhất, ông mất một con mắt và hầu
hết các ngón tay. Thế nhưng ông có niềm vui rất dạt
dào, với điều kiện là mẹ tôi không được quên phục
vụ ông một ly whysky đầy trước khi ông cậu đi ngủ !
Mà như tôi chỉ là một đứa bé, tôi cũng ngờ rằng
niềm vui này bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa. Đan viện phụ
dòng Biển Đức, Notker Wolf, đã mời các đan sĩ Nhật Bổn
theo Phật giáo và Thần giáo đến sống hai tuần tại đan
viện thánh Ottilien, ở Bavière. Khi người ta hỏi các vị
rằng điều gì các vị chú ý nhiều nhất, các vị đã
trả lời : “Niềm vui. Không biết tại sao các đan sĩ
công giáo lại vui đến thế ?”.
Niềm vui là dấu chỉ của
niềm hy vọng cho những con người chẳng còn nhìn thấy
tương lai trước mặt mình nữa. Đối với những người
không có việc làm, những sinh viên thi trượt, những đôi
bạn có cuộc đời hôn nhân trải qua một ngõ hẹp khó
khăn, đối với những người đang phải đối diện với
chiến tranh, niềm vui của chúng ta đối diện với sự
không chắc chắn phải là một dấu chỉ của niềm hy
vọng, dấu chỉ cho thấy mỗi đời sống của con người
đều đang tiến đến Thiên Chúa, cho dù những chông gai
dựng lên trên con đường có là thế nào đi chăng nữa.
Là tu sĩ, nghĩa là không
biết lịch sử cuộc đời của mình. Đa số con người
đều có những sự nghiệp, và lịch sử bản thân của
họ được kiến thiết xoay quanh những sự nghiệp đó.
Họ leo lên những nấc thang của con đường tiến thân.
Người lính binh nhì lên trung sĩ, anh đại úy mơ trở
thành ông tướng, và cô giáo ôm mộng có ngày lên chức
hiệu trưởng. Nhưng chúng ta thì lại không có sự nghiệp.
Cho đi chúng ta có vai trò này vai trò kia trong Dòng, chúng
ta không bao giờ có thể thôi không là một trong những
người anh em hay những người chị em của chúng ta. Cách
nào đó có thể nói chúng ta làm gì, điều ấy không quan
trọng cho lắm. Khi có những người hỏi tôi là bây giờ
tôi đang làm gì, tôi có thể nói với họ rằng tôi đang
làm điều tất cả chúng tôi đang làm, nghĩa là tôi đang
là một trong những người anh em, là một người tu hành.
Ắt hẳn có lúc chúng ta
có cảm tưởng là những người anh em của chúng ta không
nhận biết điểu chúng ta đang là và người ta mời gọi
chúng ta làm những chuyện đúng ra là mất thời giờ. Có
thể tài năng của chúng ta không được nhìn nhận. Trong
trường hợp này, cần phải nói. Chúng ta không phải là
những miếng giẻ rửa bát, những tấm thảm chùi chân
thụ động. Chúng ta không thể chấp nhận một sự tuân
phục ấu trĩ khiến chúng ta thành những con tốt mà bề
trên muốn chuyển dịch chỗ nào trên bàn cờ cũng được,
để lấp vào những chỗ trống. Cần phải đối thoại
và chú ý đến nhau. Nhưng đó là một phần của ơn gọi
tu trì của chúng ta, là dấu chỉ hy vọng, là duy trì được
niềm vui của những con người có cuộc đời đang tiến
đến Thiên Chúa thậm chí khi ta không được đối xử tử
tế và khi ta không được đánh giá đúng mức. Thánh
Gioan Thánh Giá thậm chí còn ca hát ngay sau khi những người
anh em Cát Minh của thánh nhân nhốt thánh nhân vào phòng
biệt giam.
Mới đây, tôi nhận được
lá thư của một người bạn, cũng là người Anh, đang là
tu sĩ. Anh bị một chứng bệnh khiến anh phải liệt hoàn
toàn. Con người chuyên giảng dạy có tiếng này đang dần
dần mất tiếng nói. Và anh trích dẫn cho tôi lời của
một danh nhân, Dag Hammarskjold : “Đối
với tất cả những gì đã là … xin cảm ơn. Còn đối
với tất cả những gì sẽ là … xin vâng”.
Đấy quả là chứng từ của cuộc sống tu trì.
Là những chứng nhân
của niềm hy vọng
Ở rất nhiều nơi, nhất
là ở Canada, đời tu đúng là đang trải qua một thời kỳ
khủng hoàng. Và ngay bản thân nhiều tu sĩ nam nữ cũng
đang trải qua cơn khủng hoàng. Chúng ta lo lắng về tương
lai của tỉnh dòng hoặc của đan viện chúng ta. Chúng ta
có thể thấy rằng cuộc đời chúng ta đang nhanh chóng
thôi không còn ý nghĩa nữa. Nhưng chúng ta chỉ có thể
là dấu chỉ hy vọng cho một thế hệ mà chính thế hệ
này cũng đang sống trong khủng hoảng, nếu như chúng ta
có khả năng đương đầu với những cuộc khủng hoảng
của chính chúng ta trong niềm vui và với thái độ thanh
thản. Điều đó có thể là một phần của ơn gọi tu
trì của chúng ta, đó là đối diện với những cuộc
khủng hoảng của chúng ta về ơn gọi như là những thời
khắc của ân sủng và của sự sống mới.
Trong mỗi cuộc cử hành
Lễ Tạ Ơn, chúng ta tưởng niệm cuộc khủng hoảng của
đêm thứ Năm tuần thánh. Đức Giêsu lẽ ra có thể trốn
thoát cơn khủng hoảng ấy, nhưng Người đã không làm
như thế. Người đã đảm nhận lấy cơn khủng hoảng và
làm cho trở thành phong phú. Nếu chúng ta đi tới chỗ
chúng ta không còn nhìn thấy con đường trước mặt, tới
chỗ chúng ta cảm thấy bị cảm dỗ khăn gói quả mướp
và ra đi, thì đấy đúng là đời tu của chúng ta đang
đến chỗ chín muồi, đang lớn lên đến độ trưởng
thành đấy. Như Đức Giêsu trong Bữa Tiệc Ly, đó chính
là khoảnh khắc để ôm lấy những gì đang tới, tin
tưởng rằng biến cố ấy sẽ sinh hoa kết quả. Đó là
một phần trong chứng từ hy vọng mà ơn gọi của chúng
ta có thể trao tặng.
Những cơn khủng hoảng
này có thể đi đến chỗ khiến chúng ta vẽ ra được
cái chết dần mòn của cộng đoàn chúng ta. Đối với
nhiều đan viện ở Tây Âu, dường như chẳng còn một
chút hy vọng nào. Liệu chúng ta có dám nhìn điều đang
xảy tới đó với niềm vui hay không ?
Hồi còn làm giám tỉnh,
tôi đi thăm một đan viện mà thời kết thúc đã gần
kề, đan viện Carisbroke.
Ở đấy chỉ còn bốn nữ đan sĩ, trong đó ba chị đã
cao tuổi. Một trong các chị nói với tôi : “Timothy ơi,
nhưng Thiên Chúa không thể để cho Carisbroke
chết, phải không ?”. Và cha cựu giám tỉnh đang ngồi
bên tôi trả lời : “Người thậm chí còn để cho Con
của Người phải chết nữa kìa, đúng không ?”. Làm thế
nào chúng ta có thể là những chứng nhân của sự chết
và sự Phục Sinh nếu chúng ta sợ trực diện với cái
chết của chính cộng đoàn chúng ta ?
Trao tặng cuộc đời
mình cho đến cùng
Cách đây hai hay ba năm,
có một hội nghị về đời tu ở Rôma, và có nhiều
người thắc mắc không biết việc cam kết vĩnh viễn có
còn là một yếu tố cốt yếu đối với đời tu nữa
không. Tôi hoàn toàn ủng hộ việc các cộng đoàn chúng
ta mở rộng ra cho mọi loại bạn bè, hội viên và các
cộng tác viên nam nữ, nhưng tôi vẫn quả quyết là ở
trung tâm điểm của đời tu, phải có cử chỉ quả cảm
là trao tặng cuộc đời của chúng ta cho đến chết,
usque ad mortem.
Đấy là một cử chỉ hơi ngông cuồng để nói lên niềm
hy vọng của chúng ta, đó là tất cả cuộc đời con
người, trọn vẹn cuộc đời con người, cho đến cái
chết và bao gồm cả cái chết nữa, là một con đường
tiến đến Thiên Chúa là Đấng ban lời mời gọi.
Ngày kia, một người anh
em cao tuổi, lúc đến giờ hấp hối, đã thổ lộ với
tôi rằng anh sắp thực hiện một tham vọng lớn anh hằng
ôm ấp là được chết trong tư cách một người Đa Minh.
Ở thời đó, tôi không ấn tượng lắm vì cái tham vọng
như thế của anh. Nhưng với thời gian, tôi dần dà đi
đến chỗ cũng gắn bó với ý tưởng của anh. Anh đã
lấy cuộc đời của anh làm quà tặng, và cho dầu có
những khó khăn xảy đến trên đường đời, anh vẫn
không rút lại quyết định trao tặng cuộc đời của
mình. Anh đã nên dấu chỉ niềm hy vọng cho những người
trẻ tuổi.
Người ta lặp đi lặp
lại cho tôi đến cả ngàn lần rằng người ta không thể
mong những người trẻ dấn thân quyết liệt, cho đến
chết. Quả những người trẻ đang sống trong một thế
giới có những sự dấn thân, những ràng buộc ngắn hạn,
cho dù đó là những ràng buộc trong công việc làm hoặc
trong gia đình. Một đời người Hoa Kỳ trung bình có mười
một việc làm khác nhau. Thường thì các cuộc hôn nhân
không kéo dài được lâu. Và chính vì thế người ta nghĩ
rằng không nên hy vọng những người trẻ sẽ có thể
khấn trọn đời được. Tôi nhớ lại một người anh em
trẻ, người Pháp, có lần hỏi tôi buổi chiều trước
ngày anh tuyên khấn trọng thể là liệu anh có hoàn toàn
hiến thân cho Dòng, không giữ lại điều gì và mãi mãi
được không. Người ta nói rằng có lẽ anh sẽ trả lời
: “Hôm nay tôi hiến thân trọn vẹn và không giữ lại
điều gì. Nhưng ai biết tôi sẽ như thế nào mười năm
sau ?”.
Nhưng đấy, chính vì
chúng ta đang sống trong một nền văn hóa với những dấn
thân, những cam kết ngắn hạn mà việc tuyên khấn cho
đến chết lại là một dấu chỉ rất đẹp về niềm hy
vọng. Việc tuyên khấn ấy nói đến câu chuyện đường
dài, trong đó mỗi một hữu thể nhân linh được mời
gọi tiến đến Thiên Chúa. Đó là một hành vi ngông
cuồng, đòi những người trẻ đưa ra những cử chỉ quả
cảm và hơi điên điên, nhưng phải tin rằng những người
trẻ, với ơn của Thiên Chúa, có thể sống điều đó
được.
Mới đây, bốn chàng
thanh niên đã khấn trọng thể trong tỉnh dòng Anh quốc
của tôi. Có bằng cấp, có tương lai rạng rỡ, nhiệt
tình. Mỗi người trong họ đều có những điều kiện để
thành đạt trong thế giới này, để sống một cuộc hôn
nhân hạnh phúc và có nhiều tiền. Lắm cô thiếu nữ đã
nói : “Phí quá ! Các chàng có thể hạnh phúc nếu lập
gia đình … có thể là với tôi đây chẳng hạn !”.
(Khốn nỗi, không biết hồi tôi tuyên khấn, có ai đã
nói như thế không !) Nhưng việc những người trẻ ấy
hiến thân cho Dòng cho đến chết vẫn cứ nói đến niềm
hy vọng chúng ta ôm ấp cho mỗi một hữu thể nhân linh.
Được mời gọi đi
vào sống cộng đoàn
Vậy có một ơn gọi,
nghĩa là có một cái gì đó để nói lên hữu thể nhân
linh là gì. Nhưng chúng ta không chỉ đơn giản là được
mời gọi mà thôi. Chúng ta được mời gọi đi vào sống
cộng đoàn và được phái đi thi hành sứ vụ. Mỗi một
trong những động thái ấy, vào sống cộng đoàn và được
sai đi thi hành sứ vụ, đều diễn tả một chân lý liên
quan đến niềm hy vọng của chúng ta về Vương Quốc của
Thiên Chúa.
Trước hết, ơn gọi sống
cộng đoàn. Đây là một dấu chỉ Thiên Chúa mời gọi
tất cả nhân loại đi vào Vương Quốc, Vương Quốc trong
đó sẽ không còn chia rẽ, hết còn bạo lực. Ơn gọi
của con người là một ơn gọi đến hưởng bình an, như
ngôn sứ Isaia nói : “Khi
Ta biến gươm giáo của chúng thành cuốc thành cày, biến
những cây lao của chúng thành liềm sắc bén thì người
ta sẽ chẳng còn vung gươm, quốc gia này chống quốc gia
kia, người ta sẽ chẳng còn học để gây ra chiến tranh
nữa”. Đức
Giêsu là Đấng, nơi Người và nhờ Người, bức tường
thù nghịch phải sụp đổ. Các cộng đoàn của chúng ta
sẽ phải là một dấu chỉ của Đức Chúa phục sinh,
Đấng đã nói với các tông đồ của Người : “Bình
an ở với anh em”.
Khi tôi hỏi những người
trẻ vì sao họ mong ước trở thành những người Đa
Minh, thường thì họ cho biết vì họ đang tìm kiếm cộng
đoàn. Trong thế giới đổ vỡ của chúng ta, nhiều người
phải sống đơn độc. Chúng ta rời bỏ tính cách tập
thể của nếp sống nông thôn để lên những thành phố
lớn như Vancouver và Montréal. Từ năm ngoái, lần đầu
tiên trong lịch sử nhân loại, hơn một nửa nhân loại
hiện đang sống ở các thành phố. Ở làng quê, con người
ta sống có hàng xóm láng giềng. Còn trên các đường
phố, chúng ta là những con người không được ai nhìn
thấy. Các gia đình đã trở thành nhỏ bé hơn. Nhiều
người không có anh em chị em. Thiên Chúa đã phán với
Ađam rằng ông sống một mình là điều không hay, nhưng
thế giới hiện đại của chúng ta lại đầy dẫy những
người cô độc vẫn hằng khao khát tìm được một cộng
đoàn.
Vậy chính vì xã hội
chúng ta đầy dẫy những con người đơn độc, cho nên
đời sống cộng đoàn có thể là khó khăn. Chúng ta không
quen chia sẻ đời sống chúng ta với nhiều người khác.
Tôi được lớn lên trong một gia đình có sáu người
con, có cha mẹ tôi, có bà nội tôi và còn có nhiều người
khác nữa. Tôi đã được biết là mẹ tôi yêu tôi cả
khi bà cụ có vẻ chẳng còn nhớ được tên tôi là gì
nữa ! Do đó, điều tôi gặp được khi tôi vào nhà tập
không khác lắm với đời sống khi tôi còn ở nhà với
cha mẹ. Thế nhưng, chính tôi cũng vẫn thấy sống cộng
đoàn là chuyện khó khăn. Vì thế, chính niềm mong ước
có một cộng đoàn đã lôi cuốn nhiều người đến với
đời tu trì trong cộng đoàn, nhưng chính khó khăn của
đời sống cộng đoàn cũng lại làm cho một số không
còn ở lại với cộng đoàn nữa.
“Đời sống cộng
đoàn, dấu chỉ của Vương Quốc”
Nhưng chính niềm vui và
đau khổ của đời sống cộng đoàn lại nói về Vương
Quốc. Tôi đã nói về niềm vui là một yếu tố cốt yếu
trong ơn gọi của chúng ta. Nhưng cũng chính yếu tố đó
trong chứng tá chúng ta nêu lên về Vương Quốc là chúng
ta sống với những con người khác với chúng ta, những
người có những thần học khác, có những quan điểm
chính trị khác, những người thích những món ăn khác và
những người nói những ngôn ngữ khác. Sống với họ
đôi khi có thể là tuyệt vời đấy nhưng cũng sẽ không
thiếu những khó khăn. Sống với họ chúng ta sẽ bị cám
dỗ rèn những chiếc liềm cắt cỏ của chúng ta thành
gươm dài để chiến đấu thay vì ngược lại. Nhưng đời
sống chung của chúng ta là một dấu chỉ về Vương Quốc
chính vì những khác biệt của chúng ta ấy. Một cộng
đoàn gồm những cá nhân nhưng tất cả đều cảm nghĩ
cùng một chuyện không phải là dấu chỉ về Vương Quốc.
Cộng đoàn không có nghĩa gì ngoài chính cộng đoàn.
Tôi đã sống một năm ở
Pháp hồi còn là sinh viên trong Dòng Đa Minh. Thật là vừa
tuyệt vời nhưng cũng là kinh khủng. Có một ngày, tôi
ngồi với bốn anh Đa Minh Pháp rất thông minh, dường như
các anh không coi điều tôi nói là đáng giá chút nào, tôi
đã chấm hết cuộc nói chuyện bằng phát biểu : “Bây
giờ thì tôi biết tại sao ông Descartes lại là người
Pháp. Là vì ở Pháp, nếu các anh không chứng minh được
rằng các anh hiện hữu, thì chẳng còn lý do gì để tin
rằng các anh đang hiện hữu nữa !”. Thế nhưng chính
khi sống với những người anh em Pháp này mà tôi khám
phá thấy rằng chúng ta chỉ có thể trở thành những dấu
chỉ của Vương Quốc bằng cách chịu đựng và thưởng
nếm sự khác biệt .
Dấu chỉ mạnh mẽ nhất
của tất cả điều đó, chính là cùng với người anh em
của tôi tên là Yvon tôi từng gặp, khi thăm Rwanda và
Burundi vào những năm khó khăn. Yvon biết nhiều hơn tôi
khó khăn ở điểm nào. Quả là gay go khi ngồi ăn chung
bàn và vào nhà thờ cầu nguyện với những người đã
sát hại những người anh em chị em của mình. Nhưng chính
nỗi đau thương này cũng là một cách để diễn tả niềm
hy vọng.
Cám dỗ đối với xã hội
của chúng ta là chỉ tìm kiếm cộng đoàn với những con
người suy nghĩ giống chúng ta, chia sẻ những ý kiến của
chúng ta, những tiên kiến và đồng huyết thống với
chúng ta. Những người bảo thủ năng đi lại với những
người bảo thủ, còn những người cấp tiến năng thăm
viếng những người cấp tiến. Những người già nua tuổi
tác thì được gửi vào các nhà hưu, các nhà dưỡng lão,
thanh niên trai trẻ thì chung sống vui đùa với trai trẻ
thanh niên, và cứ như thế … Bà Thatcher có thói quen tìm
hiểu con người bằng cách hỏi rằng : “Thế tay đấy
có đứng về phía chúng ta không ?”. Cần phải loại đi
cám dỗ này. Thay vì tìm kiếm sự giống nhau đồng loạt
như những cục đá cho vào ly để uống bia, chúng ta phải
là một cái lẩu trong đó có nhiều thứ và nhiều gia vị
để có thể thưởng thức.
“Thắt chặt mối
dây bằng hữu vượt qua mọi thứ chia rẽ”
Tại nhiều nước, Hội
Thánh bị phân ra cách sâu xa giữa một bên là những
người tự xưng là bảo thủ với bên kia là những người
tiến bộ. Có sự thù địch thực sự, một sự giận dữ
thực sự đối với những người “ở tuyến bên kia”.
Vai trò ngôn sứ của chúng ta cốt yếu là thắt chặt
những mối dây bằng hữu vượt qua mọi thứ chia rẽ.
Đối kháng giữa hữu với tả, giữa duy truyền thống
với duy tiến bộ, là sản phẩm của Thời đại Ánh
Sáng, hồi thế kỷ thứ mười tám, và chả có gì là
công giáo ở đó cả. Chúng ta hết thảy, nam cũng như nữ,
đều nhất thiết là vừa bảo thủ, gắn bó với Tin Mừng
và với truyền thống, lại vừa tiến bộ, tức là đang
mong mỏi Vương Quốc. Quả là có một số người nam nữ
có những tính khí thiên về bảo thủ hoặc thiên về
tiến bộ, nhưng đối với chúng ta, không thể nào lại
có đối kháng cơ bản và không thể giải quyết được
giữa truyền thống và biến chuyển. Vì thế, trong các
cộng đoàn của chúng ta, chúng ta phải biết từ khước,
không để cho mình bị phân chia thành những chiến tuyến
đối nghịch với nhau.
Một trong những thách đố
là làm sao vượt qua được cái hố ngăn cách giữa các
thế hệ. Trong cộng đoàn của tôi ở Oxford, có tới bốn
thế hệ. Có một người anh em đáng kính đã được đào
tạo theo truyền thống cổ điển trước Công Đồng. Có
bốn hoặc năm người anh em cùng thế hệ với tôi đã
sống những năm đầy phấn khích nhưng cũng rất ồn ào
sau Công Đồng. Có một nhóm đông hơn đến từ cái người
ta đôi khi gọi là “thế hệ Gioan-Phaolô II”, phản ứng
lại những gì các anh em ấy coi là chủ nghĩa tự do hoang
dã của thế hệ chúng tôi. Và nay, có “thế hệ Y”,
thuộc về giữa hoặc cuối tuổi hai mươi, lại là chuyện
khác nữa. Một cộng đoàn chỉ có thể phát triển tốt
đẹp nếu như cộng đoàn ấy dám đón nhận những người
trẻ, chất vấn họ và để cho họ chất vấn lại mình,
vì biết rằng họ sẽ chẳng bao giờ giống như chúng ta
được. Nhiều hội dòng đang ngấp ngoái bởi vì các hội
dòng ấy không chấp nhận rằng những người trẻ phải
khác chúng ta. Khi tôi còn là một người anh em trẻ, bấy
giờ chúng tôi có một người anh em cao tuổi cừ khôi tên
là Gervais : đấy là một nhà bác học có tiếng và thường
có những lập luận đối lại với những tư tưởng điên
rồ của bọn trẻ, nhưng được một điều là mỗi khi
đến lúc bỏ phiếu biểu quyết, thì người anh em ấy
lại luôn đứng vào hàng ngũ chúng tôi bởi vì, không có
những người trẻ, sẽ không có tương lai.
Khả năng của chúng ta để
chịu đựng sự khác biệt, và đi đến chỗ quí chuộng
sự khác biệt, cũng là thành phần của chứng từ chúng
ta trao tặng cho Hội Thánh. Công Đồng Vaticanô II đã nhấn
mạnh đến Hội Thánh địa phương, được qui tụ chung
quanh vị giám mục. Điều ấy quả là tốt và cũng thật
là đẹp. Nhưng ngay cả Hội Thánh phẩm trật cũng cần
có những tu sĩ với những đoàn sủng khác biệt và những
ơn gọi khác biệt nữa. Hội Thánh phẩm trật cần những
người chiêm niệm để chống lại sự lăng xăng bận bịu
của thế gian, và cần những người tu hành để làm việc
với những người nghèo khổ và những người bị loại
trừ, hoặc để thi hành một công việc tông đồ trí
thức. Chúng ta cần sự khác biệt đáng chiêm ngưỡng của
các linh đạo tu trì khác nhau : của Dòng Phan sinh, của
Dòng Tên Chúa Giêsu, của Dòng Đa Minh, của Dòng Cát Minh
…
Cám dỗ đối với Hội
Thánh phẩm trật, đó là khuynh hướng thiên về sự đồng
nhất. Sự thống nhất có khuynh hướng xoay chiều sang sự
áp đặt để đồng nhất. Nhưng như chúng ta đã thấy,
một cộng đoàn tu trì, do tính cách ly tâm của nó, có
thể giúp Hội Thánh giữ được hướng đi tiến về
Vương Quốc. Điều đó đúng từ thời các lão phụ và
lão mẫu sa mạc đề ra lối sống lạ thường của mình,
nay đã có tới hơn một nghìn sáu trăm năm. Chúng ta giống
như những chú hề ngày xưa trong triều đình của nhà
vua, họ có quyền tự do muốn nói gì thì nói, thậm chí
chọc ghẹo cả Chúa Thượng nữa ! Thiếu sự tự do này,
Hội Thánh sẽ chết !
Phái đi thi hành sứ vụ
Chúng ta không chỉ được
mời gọi đi vào sống trong cộng đoàn mà thôi, chúng ta
cũng được phái đi thi hành sứ vụ nữa. Điều ấy cũng
nói về Vương Quốc và về niềm hy vọng của chúng ta
đối với nhân loại. Đức Giêsu đã được Chúa Cha phái
đến với chúng ta. Cuối mỗi Thánh lễ, chúng ta được
phái đi. Đây là một dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa,
Đấng chẳng quên ai và sẽ qui tụ toàn thể nhân loại
vào trong Vương Quốc.
Tôi rất cảm động khi
nói chuyện với một người anh em tên là Pedro, ở Amazon.
Đấy là một con người học rộng, làm được đủ
chuyện. Thay vì đó, anh chấp nhận để được phái đi
thi hành tác vụ ở một góc xa xôi heo hút trong rừng già.
Anh dành phần lớn thời gian để đi bộ và lái ca-nô đi
thăm những cộng đoàn người bản xứ nhỏ bé mà thế
giới chưa từng biết đến. Cách nào đó, khi hiến thân
cho những con người ấy, Pedro mất hút, chia sẻ tính cách
bất khả thị, không được ai nhìn thấy, của những
người bản xứ kia. Nhưng anh tìm được niềm vui ở nơi
xa xôi ấy bởi vì đó là ơn gọi của anh. Đó là một
dấu chỉ cho thấy rằng những dân tộc mà chúng ta chưa
hề biết đến, chưa hề để ý đến kia không hề bị
Thiên Chúa lãng quên. Nhờ sự chăm sóc anh chị em dành
cho những người bị loại trừ, anh chị em thành một dấu
chỉ của ký ức không hề tàn lụi mà Thiên Chúa có đối
với mỗi một ngôi vị con người.
Sai phái lẫn nhau
Điều quan trọng là anh
Pedro không chỉ đơn giản chọn đi tới nơi ấy. Anh được
phái đến đấy. Chính sự kiện được phái đi mới thật
là một dấu chỉ cho thấy sự chú ý của riêng Thiên
Chúa chứ không phải là một sự nghiệp như bao sự
nghiệp khác. Còn chúng ta, chúng ta có dám phái đi và có
dám để cho mình được phái đi không ? Nhiều hội dòng
không còn can đảm để làm việc ấy nữa. Trong một cuộc
họp ở Hiệp chủng quốc, một người chị em đã thổ
lộ với tôi rằng chị đã sống trong đời tu hai mươi
năm và chẳng có ai yêu cầu chị làm bất cứ chuyện gì
bao giờ cả. Chị có thể chọn sứ vụ nào tùy chị
muốn. Chị cũng thưa như ngôn sứ Isaia: “Này,
con đây. Xin cứ sai con”,
nhưng vô ích, chẳng hề có ai sai phái chị bao giờ !
Tại sao một số hội
dòng lại sợ sai phái anh chị em mình như thế ? Có nhiều
lý do. Một số vị bề trên nam hoặc nữ thời tiền Công
Đồng hơi có tính cách độc tài và quyết định một
cách tùy tiện : các thành viên vì thế bị tổn thương
nặng đến nỗi ngày nay những người có trách nhiệm
ngần ngại khi phải sai phái một ai đó. Sau những lạm
dụng như thế về lời khấn hứa tuân phục, chúng ta
không còn dám sai phái nữa. Một lý do khác dính dáng đến
sự biến mất của những sứ vụ truyền giáo cộng đoàn
trong nhiều hội dòng nay không còn điều hành những bệnh
viện, những trường tiểu học hoặc trung học, mà quay
sang các xứ đạo để thi hành tác vụ tông đồ và bị
chìm nghỉm do những cấu trúc của Hội Thánh địa
phương. Như thế, không còn sứ vụ nữa thì sai phái
những con người đi đâu bây giờ !
Nhưng tôi xác tín rằng
để cho đời tu được phát triển tốt đẹp, chúng ta
cần phải lấy lại can đảm để sai phái lẫn nhau, vì
nếu làm khác đi chúng ta không sẽ đạt tới chỗ trở
thành một dấu chỉ về ký ức của Thiên Chúa. Tôi sẽ
chẳng bao giờ vào Dòng của các anh em Đa Minh nếu như
người ta bấy giờ bảo tôi rằng tôi có thể làm bất
cứ điều gì tôi muốn. Và những người trẻ ngày hôm
nay sẽ không đến trừ phi họ biết rằng chúng ta sẽ
yêu cầu họ làm những chuyện coi như điên rồ, những
việc có thể ra như vượt quá khả năng của họ.
Đức Giêsu đã được
phái đến để làm cho dung nhan của Chúa Cha mang lấy hình
hài nhân loại. Người biết những con người. Gặp gỡ
Đức Giêsu, chính là luôn luôn gặp gỡ một ai đó đã
biết anh chị em trước. Người biết ông Nathanaen, rồi
bấy giờ ông Nathanaen mới nhận ra Người. Người biết
ông Dakêu đang ở trên cây vả. Người nhận ra cô Maria
Magđala trong khu vườn, rồi bấy giờ cô ấy mới nhận
ra Người : “Maria. – Rabbouni”. Ngày kia, ở Lima, tôi
thấy tấm hình của một em bé bụi đời. Phía dưới tấm
hình có hàng chữ : Saben
que existo, pero no me ven,
xin các bạn biết cho là tôi hiện hữu đây, nhưng các
bạn lại không nhìn thấy tôi. Người ta biết em bé ấy
hiện hữu xét như một vấn đề phải giải quyết, như
một mối đe dọa phải đề phòng, nhưng người ta không
nhìn thấy em, chính em. Các tu sĩ nam nữ được phái đến
những nơi chốn bị quên lãng nhiều nhất, để làm dấu
chỉ của Thiên Chúa là Đấng không quên ai bao giờ và là
Đấng nhận ra những khuôn mặt.
Giữ lấy lòng tin tưởng
Để kết : ở thời đại
nhân loại đang phải chịu một cơn khủng hoảng về niềm
hy vọng, đời tu có thể là một dấu chỉ nhỏ bé về
Vương Quốc. Chúng ta là một dấu chỉ trước hết do ơn
gọi của chúng ta. Chúng ta làm cho ơn gọi của tất cả
nhân loại đã được Thiên Chúa mời gọi đến Vương
Quốc trở thành khả thị, có thể nhìn thấy được.
Chúng ta là một dấu chỉ của Vương Quốc vì chúng ta
được mời gọi vào sống trong cộng đoàn và vì chúng
ta dám sống với những con người khác chúng ta. Một cách
ngôn sứ, chúng ta từ chối sự yên ổn của một mái ấm
tạo nên nhờ những con người suy nghĩ giống như chúng
ta. Và chúng ta là một dấu chỉ vì chúng ta được phái
đi thi hành sứ vụ ở bên ngoài cộng đoàn, để nêu lên
ý nghĩa của tình yêu và ký ức vô biên vô tận của
Thiên Chúa. Làm một dấu chỉ như thế, kể cũng bõ công.
Hội Thánh và xã hội hơn bao giờ hết đang cần đến
dấu chỉ này. Vậy, chúng ta hãy tin tưởng. Chúng ta không
chấm hết !
Québec, ngày 6 tháng sáu
năm 2008
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire