lundi 6 avril 2015

tương lai của đời tu


Nhân hội nghị của Hiệp hội đời tu của Canada, được tổ chức ở Québec từ ngày 05 đến ngày 09 tháng sáu năm 2008, cha Timothy Radcliffe, o.p. đã chia sẻ hai bài thuyết trình về đời tu và một bài giảng trong buổi cử hành Phụng vụ Kinh Chiều ở Vương Cung Thánh Đường Sainte-de-Beaupré.



Tôi rất vui mừng được có mặt ở đây trong dịp kỷ niệm 400 năm thành lập Québec. Anh chị em mừng sự phong phú của lịch sử của mình và phần đóng góp lớn lao của người dân Canada và người Canada cho Hội Thánh khắp nơi trên thế giới. Tôi đã được đi nhiều nơi và tôi đã khám phá thấy những Hội Thánh được thiết lập nhờ các nhà truyền giáo từ Anh quốc và từ Canada tới. Tôi không biết liệu mình có còn được đón tiếp niềm nở ở đây khi tôi cho anh chị em biết rắng một trong các vị tổ tiên của tôi đã giữ một vai trò trong lịch sử của anh chị em. Có một bức tranh nổi tiếng trình bày cái chết của tướng Wolfe sau khi người Anh đánh chiếm Québec : người đàn ông đang cầm lá cờ của Anh là tổ tiên của tôi đấy !

Được gọi để làm dấu chỉ cho niềm hy vọng”

Trong khung cảnh cuộc hội nghị của anh chị em, chắc anh chị em cũng sẽ suy nghĩ về tương lai. Bây giờ không phải là thời kỳ dễ dàng đối với đời tu trên phần lớn các lục địa.. Hồi năm vừa qua, tôi đã được phát biểu trước các hội nghị của các tu sĩ ở châu Á, châu Mỹ La tinh, châu Phi, ở Bắc Mỹ và ở châu Âu, và hầu như chỗ nào người ta cũng đặt ra cùng một câu hỏi : liệu đời tu còn có một tương lai ? Điều này cũng đúng ở Canada này. Nhiều hội dòng đang bị đe dọa biến mất. Nhưng ngay danh xưng Québec lẽ ra đã phải đem lại cho chung ta lòng can đảm rồi. Danh xưng ấy xuất phát do một từ algonquin để chỉ một lối đi hẹp, một khe núi. Ngay từ thuở đầu, danh xưng này đã qui chiếu về chỗ hẹp của con sông, ở miền thượng Cap Diamant.

Bây giờ đây, chúng ta đang đi qua một lối đi hẹp, giữa một bên là đồng bằng mênh mông của con sông ở miền thượng lưu với biển ở miền hạ lưu. Tôi thiết nghĩ ơn gọi làm tu sĩ nam nữ của chúng ta giờ đây quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta được gọi để làm dấu chỉ cho niềm hy vọng đối với nhân loại. Là tu sĩ nam hay nữ, chúng ta đều có thể trải qua một khoảnh khắc trong đó chúng ta có những nghi ngờ về tương lai của chúng ta, nhưng toàn thể nhân loại cũng phải đối diện với một khủng hoảng trầm trọng về niềm hy vọng. Tôi không có ý nói như thế mọi người tất nhiên là bất hạnh, càng không có ý bảo đang có một nạn dịch tự tử nơi giới trẻ. Tôi có ý nói rằng những người đồng thời với chúng ta không có lấy câu chuyện cưu mang niềm hy vọng liên quan đến tương lai.

Hồi tôi còn trẻ, cuối thập niên sáu mươi, tôi những tin sẽ thấy nhân loại chuyển biến để tiến đến một tương lai huy hoàng trong đó chiến tranh và nghèo đói sẽ phải kết thúc. Mọi sự xem ra là khả dĩ như thế. Chúng tôi từng tin ở sự tiến bộ. Nhóm nhạc Beatles mê hoặc toàn thế giới. Thậm chí bếp núc của Anh quốc hồi ấy cũng được cải tiến ! Hôm nay, vào bước đầu của Thiên niên kỷ mới, chúng ta đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng về môi trường sinh thái, với sự lan tràn của chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, với chủ nghĩa khủng bố, với nạn dịch sida, với hố ngăn cách giữa người giàu với người nghèo càng ngày càng rộng. Nhiều nước ở châu Phi có nguy cơ sụp đổ. Những câu chuyện nào có thể là những câu chuyện còn cưu mang niềm hy vọng mà những người trẻ đang cần dây ? Có câu chuyện về một đại họa môi trường sắp xảy đến và câu chuyện về cuộc chiến chống khủng bố. Nhưng chẳng câu chuyện nào trong hai hứa hẹn tương lai cho những người trẻ cả. Tại nhiều nước, Canada, Tây ban nha và Italia chẳng hạn, sinh xuất bị coi là đại họa. Người ta sợ cho ra đời những đứa trẻ trong một thế giới không có tương lai.

Trong bối cảnh này, đời tu được gọi để làm một dấu chỉ hy vọng. Đối vối chúng ta, những tu sĩ nam nữ thì khác, anh chị em cứ yên tâm, đó không phải là chuyện có những em bé ! Đời sống lạ kỳ của chúng ta với những lời khấn hứa lại là một dấu chỉ hy vọng cho nhân loại. Chúng ta là một mối hy vọng vì chúng ta có một ơn gọi. Ơn gọi này mời chúng ta đi vào trong cộng đoàn và cộng đoàn cử chúng ta đi thi hành sứ vụ. Ơn gọi của chúng ta là kỳ diệu không phải vì chúng ta là những con người kỳ diệu, nhưng vì ơn gọi là dấu chỉ của niềm hy vọng kỳ diệu mà chúng ta làm chứng cho toàn thể nhân loại. Vì thế, ở đây tôi sẽ bàn đến ba cách thế để đời tu của chúng ta thành dấu chỉ hy vọng : trước hết, vì việc tuyên khấn của chúng ta ; thứ hai, do sự kiện chúng ta sống đời sống cộng đoàn, và cuối cùng, cách vắn tắt, nhờ sứ vụ của chúng ta.

Đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa với tất cả lòng tin tưởng

Chúng ta bắt đầu bằng khái niệm về ơn gọi. Tôi đã được lôi cuốn đến với các anh em Đa Minh vì có lẽ tôi yêu mến sứ vụ của Dòng này và tôi cũng rất yêu mến những người anh em. Nhưng nói cho cùng thì như thế chưa đủ. Tôi đã trở thành người anh em Đa Minh vì tôi xác tín rằng đó là ơn gọi của tôi. Tôi đã được Thiên Chúa gọi đi theo con đường Đa Minh.

Nhưng đó là cách để diễn tả một chân lý còn thâm sâu hơn nữa, tức là mỗi một hữu thể nhân linh đều được Thiên Chúa mời gọi. Chính Thiên Chúa là Đấng mời gọi chúng ta đến cuộc hiện hữu và Người mời gọi chúng ta tìm ở nơi Người hạnh phúc của chúng ta. Là người tu sĩ, đó là đưa vào vấn đề nhân loại một xác tín cơ bản và cưu mang niềm hy vọng. Chúng ta đang trên đường tiến về Thiên Chúa. Có thể chúng ta chẳng biết tí gì về tương lai của nhân loại, của những tai ương đại họa và của bạo lực đang rình rập chúng ta – nhân loại sẽ bị tiêu diệt vì những trận mưa bom, bị nhấn chìm do mực nước biển dâng cao, bị nướng cháy vì khí hậu ấm nóng ? – nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa mời gọi toàn thể vũ trụ tạo thành này tiến đến với Người.

Này con đây”
Bất cứ cái gì hiện hữu cũng là vì Thiên Chúa gọi nó hiện hữu. Thiên Chúa phán : hãy có ánh sáng, và ánh sáng lung linh soi chiếu. Có một đoạn văn rất đẹp của ngôn sứ Barúc : “Những vì sao lấp lánh, vui tươi, mỗi vì nơi trạm canh của mình suốt đêm trường ; Người gọi chúng ; chúng đáp lại : ‘Chính tôi đây’” (Br 3,34). Sự hiện hữu của một vì sao không chỉ thuần túy là một dữ kiện khoa học trừu tượng. Các vì tinh tú thưa với Thiên Chúa một tiếng xin vâng đầy vui tươi. Cuộc hiện hữu của mỗi loài mỗi vật, bất kỳ cuộc hiện hữu nào, cũng đều là một tiếng xin vâng thưa với Thiên Chúa.

Có điều lạ lùng khi áp dụng vào những hữu thể nhân linh, đó là chúng ta không nói “xin vâng” duy vì sự kiện chúng ta được hiện hữu. Chúng ta thưa xin vâng với Thiên Chúa nhờ lời nói cúa chúng ta. Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta, và chúng ta đáp lại Thiên Chúa bằng lời nói. Chính vì như thế mà chúng ta đã được sáng tạo nên. Có một từ rất đẹp trong tiếng Hípri tóm tắt điều ấy : Hineni. Có nghĩa là : này, con đây. Khi được Thiên Chúa từ bụi gai rực lửa lên tiếng gọi, ông Môsê thưa : Này, con đây. Khi Thiên Chúa gọi ông Ápraham để ông hiến tế con mình là Isaác, ông Ápraham thưa : Này, con đây. Khi ngôn sứ Isaia nghe một tiếng có ý hỏi : “Ta sẽ sai ai đi ?”, ông thưa : “Này, con đây. Xin cứ sai con”. Nhưng khi Thiên Chúa gọi ông Ađam trong thửa vườn, con người ấy không thưa “này, con đây” ; con người ấy lại đi nấp vào sau bụi cây.

Chính chân lý ấy trong ơn gọi của con người là điều chúng ta diễn tả ra khi chúng ta tuyên khấn. Chúng ta đặt bản thân mình vào tay những người anh em và những người chị em của chúng ta, và chúng ta nói lên tiếng xin vâng quyết liệt của chúng ta. Này, tôi đây. Đó là một cái gì còn hơn cả việc chấp nhận tuân phục một tu luật. Đó là một cái gì còn lớn hơn là việc dấn thân sống theo một nếp sống, một kiểu sống. Đó chính là một dấu chỉ minh nhiên nói lên ý nghĩa của việc là một hữu thể nhân linh.

Mời gọi lẫn nhau
Đàng khác, chúng ta không chỉ nói xin vâng lúc chúng ta tuyên khấn. Tất cả cuộc đời của mình, chúng ta tiếp tục được kêu gọi bởi những người anh em và những người chị em của chúng ta, khi chúng ta được mời thi hành một phận vụ trong cộng đoàn, làm người quản lý, làm giám sư tập sinh, hay làm tu viện trưởng. Chúng ta mời gọi nhau. Sự tuân phục của chúng ta là một sự tuân phục có tính cách hỗ tương. Và đây không phải chỉ là vấn đề nhằm tổ chức làm sao cho sứ vụ của Dòng được kiến hiệu. Nhưng đây là sự ưng thuận liên tục chúng ta dâng cho Thiên Chúa : Hinneni, này con đây !

Chúng ta phải mời gọi nhau sẵn sàng can đảm và tiến đến sự tự do, mời gọi nhau làm những chuyện bình thường có lẽ chúng ta không dám làm. Những người anh em và những người chị em của chúng ta có đó để mời gọi chúng ta vượt qua nỗi sợ hãi, khi chúng ta cảm thấy mình bị tê liệt và bị đóng băng.

Ngày kia, tôi đang đi dạo với các anh em tôi ở Ecosse, chúng tôi đi tới một vách núi ở đấy không còn thấy con đường mòn nữa. Phải vừa đi tới vừa dò dẫm dọc theo một lối đi nhỏ ven núi. Quả là khiếp hãi khi anh thấy mình như bị treo lơ lửng giữa ngọn núi cao với những lớp sóng biển ở mãi tít bên dưới. Khi tới được đầu bên kia, chúng tôi mới nhận ra người anh em tên là Gareth không có mặt. Chúng tôi không hề biết rằng anh đã chóng mặt. Một người trong chúng tôi lại phải men theo con đường trở lại để tìm anh : anh như bị tê liệt vì quá sợ hãi. Người anh em đã phải nói với anh : “Gareth, cậu bám tay vào đây này, cậu sẽ đi được một mét. Được rồi, bây giờ bước chân kia lên”. Cứ như thế cuối cùng Gareth gặp lại chúng tôi. Trong bất kỳ cuộc chu du nào chúng ta thực hiện chung với nhau trong cộng đoàn, chúng ta đều mời gọi nhau, và thật ra chính tiếng của Thiên Chúa mời gọi mỗi người chị em và mỗi người anh em chúng ta tiến đến sự tự do và can đảm, trong khi chúng ta không biết những gì đang chờ đợi chúng ta trên đường, ở khúc quặt sắp tới. Đúng là liều, là phó mặc. Chúng ta cần học biết tin tưởng vào tiếng đang gọi chúng ta.

Như thế cũng giống như anh chàng vừa đang lái xe dọc theo lưng đèo vừa thắc mắc không biết Thiên Chúa có hiện hữu hay không. Thắc mắc như thế làm cho anh lái xe chia trí vô cùng đến nỗi anh quên mất con đường và để cho xe rơi xuống vực. Anh văng ra khỏi xe. Đang khi rơi xuống vực, anh may phúc móc vào một cành cây. Ngay lập tức, vấn đề đức tin kia đã trở thành khẩn cấp và anh bắt đầu la lên : “Có ai trên đó không ?”. Một lát thì có tiếng vọng lên : “Có đây, tôi đây. Cứ bình tĩnh. Buông cành cây ra, cứ thả tay ra, tôi sẽ đỡ anh”. Chàng lái xe suy nghĩ một lát trước khi lại la lên : “Thế không có ai ở trên đấy à ?”.

Sống điều không chắc chắn trong niềm vui”
Dấu chỉ vĩ đại của Kitô giáo về niềm hy vọng, chính là Bữa Tiệc Ly. Đức Giêsu đặt bản thân Người vào tay những người môn đệ mong manh yếu đuối của Người. Thiên Chúa đã dám để cho mình bị thương tổn và đem chính mình làm quà tặng cho những kẻ sắp phản bội Người, sắp chối Người và bỏ rơi Người. Trong đời tu, chúng ta cũng đón lấy cùng một nguy cơ như thế. Chúng ta tin tưởng những người anh em và những người chị em mong manh yếu đuối, không biết anh em chị em chúng ta sắp làm gì cho chúng ta. Chúng ta cũng đặt bản thân mình vào trong tay cả những con người chưa chào đời mà một ngày kia sẽ là những người anh em chị em của chúng ta. Tu viện trưởng của tôi ở Oxford chào đời khi tôi vào Dòng đã được năm năm ! Mà cả hôm nay nữa, sau hơn bốn mươi năm sống trong đời tu Đa Minh, tôi thực vẫn không biết những người anh em của tôi sắp đòi hỏi tôi điều gì.

Chúng ta được mời gọi sống sự không chắc chắn ấy trong niềm vui. Hạt giống cho ơn gọi tu trì của tôi có thể là niềm vui bất ngờ của một ông cậu là đan sĩ Biển Đức. Bị thương nặng trong Thế Chiến Thứ Nhất, ông mất một con mắt và hầu hết các ngón tay. Thế nhưng ông có niềm vui rất dạt dào, với điều kiện là mẹ tôi không được quên phục vụ ông một ly whysky đầy trước khi ông cậu đi ngủ ! Mà như tôi chỉ là một đứa bé, tôi cũng ngờ rằng niềm vui này bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa. Đan viện phụ dòng Biển Đức, Notker Wolf, đã mời các đan sĩ Nhật Bổn theo Phật giáo và Thần giáo đến sống hai tuần tại đan viện thánh Ottilien, ở Bavière. Khi người ta hỏi các vị rằng điều gì các vị chú ý nhiều nhất, các vị đã trả lời : “Niềm vui. Không biết tại sao các đan sĩ công giáo lại vui đến thế ?”.

Niềm vui là dấu chỉ của niềm hy vọng cho những con người chẳng còn nhìn thấy tương lai trước mặt mình nữa. Đối với những người không có việc làm, những sinh viên thi trượt, những đôi bạn có cuộc đời hôn nhân trải qua một ngõ hẹp khó khăn, đối với những người đang phải đối diện với chiến tranh, niềm vui của chúng ta đối diện với sự không chắc chắn phải là một dấu chỉ của niềm hy vọng, dấu chỉ cho thấy mỗi đời sống của con người đều đang tiến đến Thiên Chúa, cho dù những chông gai dựng lên trên con đường có là thế nào đi chăng nữa.

Là tu sĩ, nghĩa là không biết lịch sử cuộc đời của mình. Đa số con người đều có những sự nghiệp, và lịch sử bản thân của họ được kiến thiết xoay quanh những sự nghiệp đó. Họ leo lên những nấc thang của con đường tiến thân. Người lính binh nhì lên trung sĩ, anh đại úy mơ trở thành ông tướng, và cô giáo ôm mộng có ngày lên chức hiệu trưởng. Nhưng chúng ta thì lại không có sự nghiệp. Cho đi chúng ta có vai trò này vai trò kia trong Dòng, chúng ta không bao giờ có thể thôi không là một trong những người anh em hay những người chị em của chúng ta. Cách nào đó có thể nói chúng ta làm gì, điều ấy không quan trọng cho lắm. Khi có những người hỏi tôi là bây giờ tôi đang làm gì, tôi có thể nói với họ rằng tôi đang làm điều tất cả chúng tôi đang làm, nghĩa là tôi đang là một trong những người anh em, là một người tu hành.

Ắt hẳn có lúc chúng ta có cảm tưởng là những người anh em của chúng ta không nhận biết điểu chúng ta đang là và người ta mời gọi chúng ta làm những chuyện đúng ra là mất thời giờ. Có thể tài năng của chúng ta không được nhìn nhận. Trong trường hợp này, cần phải nói. Chúng ta không phải là những miếng giẻ rửa bát, những tấm thảm chùi chân thụ động. Chúng ta không thể chấp nhận một sự tuân phục ấu trĩ khiến chúng ta thành những con tốt mà bề trên muốn chuyển dịch chỗ nào trên bàn cờ cũng được, để lấp vào những chỗ trống. Cần phải đối thoại và chú ý đến nhau. Nhưng đó là một phần của ơn gọi tu trì của chúng ta, là dấu chỉ hy vọng, là duy trì được niềm vui của những con người có cuộc đời đang tiến đến Thiên Chúa thậm chí khi ta không được đối xử tử tế và khi ta không được đánh giá đúng mức. Thánh Gioan Thánh Giá thậm chí còn ca hát ngay sau khi những người anh em Cát Minh của thánh nhân nhốt thánh nhân vào phòng biệt giam.

Mới đây, tôi nhận được lá thư của một người bạn, cũng là người Anh, đang là tu sĩ. Anh bị một chứng bệnh khiến anh phải liệt hoàn toàn. Con người chuyên giảng dạy có tiếng này đang dần dần mất tiếng nói. Và anh trích dẫn cho tôi lời của một danh nhân, Dag Hammarskjold : “Đối với tất cả những gì đã là … xin cảm ơn. Còn đối với tất cả những gì sẽ là … xin vâng”. Đấy quả là chứng từ của cuộc sống tu trì.

Là những chứng nhân của niềm hy vọng
Ở rất nhiều nơi, nhất là ở Canada, đời tu đúng là đang trải qua một thời kỳ khủng hoàng. Và ngay bản thân nhiều tu sĩ nam nữ cũng đang trải qua cơn khủng hoàng. Chúng ta lo lắng về tương lai của tỉnh dòng hoặc của đan viện chúng ta. Chúng ta có thể thấy rằng cuộc đời chúng ta đang nhanh chóng thôi không còn ý nghĩa nữa. Nhưng chúng ta chỉ có thể là dấu chỉ hy vọng cho một thế hệ mà chính thế hệ này cũng đang sống trong khủng hoảng, nếu như chúng ta có khả năng đương đầu với những cuộc khủng hoảng của chính chúng ta trong niềm vui và với thái độ thanh thản. Điều đó có thể là một phần của ơn gọi tu trì của chúng ta, đó là đối diện với những cuộc khủng hoảng của chúng ta về ơn gọi như là những thời khắc của ân sủng và của sự sống mới.

Trong mỗi cuộc cử hành Lễ Tạ Ơn, chúng ta tưởng niệm cuộc khủng hoảng của đêm thứ Năm tuần thánh. Đức Giêsu lẽ ra có thể trốn thoát cơn khủng hoảng ấy, nhưng Người đã không làm như thế. Người đã đảm nhận lấy cơn khủng hoảng và làm cho trở thành phong phú. Nếu chúng ta đi tới chỗ chúng ta không còn nhìn thấy con đường trước mặt, tới chỗ chúng ta cảm thấy bị cảm dỗ khăn gói quả mướp và ra đi, thì đấy đúng là đời tu của chúng ta đang đến chỗ chín muồi, đang lớn lên đến độ trưởng thành đấy. Như Đức Giêsu trong Bữa Tiệc Ly, đó chính là khoảnh khắc để ôm lấy những gì đang tới, tin tưởng rằng biến cố ấy sẽ sinh hoa kết quả. Đó là một phần trong chứng từ hy vọng mà ơn gọi của chúng ta có thể trao tặng.

Những cơn khủng hoảng này có thể đi đến chỗ khiến chúng ta vẽ ra được cái chết dần mòn của cộng đoàn chúng ta. Đối với nhiều đan viện ở Tây Âu, dường như chẳng còn một chút hy vọng nào. Liệu chúng ta có dám nhìn điều đang xảy tới đó với niềm vui hay không ?

Hồi còn làm giám tỉnh, tôi đi thăm một đan viện mà thời kết thúc đã gần kề, đan viện Carisbroke. Ở đấy chỉ còn bốn nữ đan sĩ, trong đó ba chị đã cao tuổi. Một trong các chị nói với tôi : “Timothy ơi, nhưng Thiên Chúa không thể để cho Carisbroke chết, phải không ?”. Và cha cựu giám tỉnh đang ngồi bên tôi trả lời : “Người thậm chí còn để cho Con của Người phải chết nữa kìa, đúng không ?”. Làm thế nào chúng ta có thể là những chứng nhân của sự chết và sự Phục Sinh nếu chúng ta sợ trực diện với cái chết của chính cộng đoàn chúng ta ?

Trao tặng cuộc đời mình cho đến cùng
Cách đây hai hay ba năm, có một hội nghị về đời tu ở Rôma, và có nhiều người thắc mắc không biết việc cam kết vĩnh viễn có còn là một yếu tố cốt yếu đối với đời tu nữa không. Tôi hoàn toàn ủng hộ việc các cộng đoàn chúng ta mở rộng ra cho mọi loại bạn bè, hội viên và các cộng tác viên nam nữ, nhưng tôi vẫn quả quyết là ở trung tâm điểm của đời tu, phải có cử chỉ quả cảm là trao tặng cuộc đời của chúng ta cho đến chết, usque ad mortem. Đấy là một cử chỉ hơi ngông cuồng để nói lên niềm hy vọng của chúng ta, đó là tất cả cuộc đời con người, trọn vẹn cuộc đời con người, cho đến cái chết và bao gồm cả cái chết nữa, là một con đường tiến đến Thiên Chúa là Đấng ban lời mời gọi.

Ngày kia, một người anh em cao tuổi, lúc đến giờ hấp hối, đã thổ lộ với tôi rằng anh sắp thực hiện một tham vọng lớn anh hằng ôm ấp là được chết trong tư cách một người Đa Minh. Ở thời đó, tôi không ấn tượng lắm vì cái tham vọng như thế của anh. Nhưng với thời gian, tôi dần dà đi đến chỗ cũng gắn bó với ý tưởng của anh. Anh đã lấy cuộc đời của anh làm quà tặng, và cho dầu có những khó khăn xảy đến trên đường đời, anh vẫn không rút lại quyết định trao tặng cuộc đời của mình. Anh đã nên dấu chỉ niềm hy vọng cho những người trẻ tuổi.

Người ta lặp đi lặp lại cho tôi đến cả ngàn lần rằng người ta không thể mong những người trẻ dấn thân quyết liệt, cho đến chết. Quả những người trẻ đang sống trong một thế giới có những sự dấn thân, những ràng buộc ngắn hạn, cho dù đó là những ràng buộc trong công việc làm hoặc trong gia đình. Một đời người Hoa Kỳ trung bình có mười một việc làm khác nhau. Thường thì các cuộc hôn nhân không kéo dài được lâu. Và chính vì thế người ta nghĩ rằng không nên hy vọng những người trẻ sẽ có thể khấn trọn đời được. Tôi nhớ lại một người anh em trẻ, người Pháp, có lần hỏi tôi buổi chiều trước ngày anh tuyên khấn trọng thể là liệu anh có hoàn toàn hiến thân cho Dòng, không giữ lại điều gì và mãi mãi được không. Người ta nói rằng có lẽ anh sẽ trả lời : “Hôm nay tôi hiến thân trọn vẹn và không giữ lại điều gì. Nhưng ai biết tôi sẽ như thế nào mười năm sau ?”.

Nhưng đấy, chính vì chúng ta đang sống trong một nền văn hóa với những dấn thân, những cam kết ngắn hạn mà việc tuyên khấn cho đến chết lại là một dấu chỉ rất đẹp về niềm hy vọng. Việc tuyên khấn ấy nói đến câu chuyện đường dài, trong đó mỗi một hữu thể nhân linh được mời gọi tiến đến Thiên Chúa. Đó là một hành vi ngông cuồng, đòi những người trẻ đưa ra những cử chỉ quả cảm và hơi điên điên, nhưng phải tin rằng những người trẻ, với ơn của Thiên Chúa, có thể sống điều đó được.

Mới đây, bốn chàng thanh niên đã khấn trọng thể trong tỉnh dòng Anh quốc của tôi. Có bằng cấp, có tương lai rạng rỡ, nhiệt tình. Mỗi người trong họ đều có những điều kiện để thành đạt trong thế giới này, để sống một cuộc hôn nhân hạnh phúc và có nhiều tiền. Lắm cô thiếu nữ đã nói : “Phí quá ! Các chàng có thể hạnh phúc nếu lập gia đình … có thể là với tôi đây chẳng hạn !”. (Khốn nỗi, không biết hồi tôi tuyên khấn, có ai đã nói như thế không !) Nhưng việc những người trẻ ấy hiến thân cho Dòng cho đến chết vẫn cứ nói đến niềm hy vọng chúng ta ôm ấp cho mỗi một hữu thể nhân linh.

Được mời gọi đi vào sống cộng đoàn

Vậy có một ơn gọi, nghĩa là có một cái gì đó để nói lên hữu thể nhân linh là gì. Nhưng chúng ta không chỉ đơn giản là được mời gọi mà thôi. Chúng ta được mời gọi đi vào sống cộng đoàn và được phái đi thi hành sứ vụ. Mỗi một trong những động thái ấy, vào sống cộng đoàn và được sai đi thi hành sứ vụ, đều diễn tả một chân lý liên quan đến niềm hy vọng của chúng ta về Vương Quốc của Thiên Chúa.

Trước hết, ơn gọi sống cộng đoàn. Đây là một dấu chỉ Thiên Chúa mời gọi tất cả nhân loại đi vào Vương Quốc, Vương Quốc trong đó sẽ không còn chia rẽ, hết còn bạo lực. Ơn gọi của con người là một ơn gọi đến hưởng bình an, như ngôn sứ Isaia nói : “Khi Ta biến gươm giáo của chúng thành cuốc thành cày, biến những cây lao của chúng thành liềm sắc bén thì người ta sẽ chẳng còn vung gươm, quốc gia này chống quốc gia kia, người ta sẽ chẳng còn học để gây ra chiến tranh nữa”. Đức Giêsu là Đấng, nơi Người và nhờ Người, bức tường thù nghịch phải sụp đổ. Các cộng đoàn của chúng ta sẽ phải là một dấu chỉ của Đức Chúa phục sinh, Đấng đã nói với các tông đồ của Người : “Bình an ở với anh em”.

Khi tôi hỏi những người trẻ vì sao họ mong ước trở thành những người Đa Minh, thường thì họ cho biết vì họ đang tìm kiếm cộng đoàn. Trong thế giới đổ vỡ của chúng ta, nhiều người phải sống đơn độc. Chúng ta rời bỏ tính cách tập thể của nếp sống nông thôn để lên những thành phố lớn như Vancouver và Montréal. Từ năm ngoái, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, hơn một nửa nhân loại hiện đang sống ở các thành phố. Ở làng quê, con người ta sống có hàng xóm láng giềng. Còn trên các đường phố, chúng ta là những con người không được ai nhìn thấy. Các gia đình đã trở thành nhỏ bé hơn. Nhiều người không có anh em chị em. Thiên Chúa đã phán với Ađam rằng ông sống một mình là điều không hay, nhưng thế giới hiện đại của chúng ta lại đầy dẫy những người cô độc vẫn hằng khao khát tìm được một cộng đoàn.

Vậy chính vì xã hội chúng ta đầy dẫy những con người đơn độc, cho nên đời sống cộng đoàn có thể là khó khăn. Chúng ta không quen chia sẻ đời sống chúng ta với nhiều người khác. Tôi được lớn lên trong một gia đình có sáu người con, có cha mẹ tôi, có bà nội tôi và còn có nhiều người khác nữa. Tôi đã được biết là mẹ tôi yêu tôi cả khi bà cụ có vẻ chẳng còn nhớ được tên tôi là gì nữa ! Do đó, điều tôi gặp được khi tôi vào nhà tập không khác lắm với đời sống khi tôi còn ở nhà với cha mẹ. Thế nhưng, chính tôi cũng vẫn thấy sống cộng đoàn là chuyện khó khăn. Vì thế, chính niềm mong ước có một cộng đoàn đã lôi cuốn nhiều người đến với đời tu trì trong cộng đoàn, nhưng chính khó khăn của đời sống cộng đoàn cũng lại làm cho một số không còn ở lại với cộng đoàn nữa.

Đời sống cộng đoàn, dấu chỉ của Vương Quốc”
Nhưng chính niềm vui và đau khổ của đời sống cộng đoàn lại nói về Vương Quốc. Tôi đã nói về niềm vui là một yếu tố cốt yếu trong ơn gọi của chúng ta. Nhưng cũng chính yếu tố đó trong chứng tá chúng ta nêu lên về Vương Quốc là chúng ta sống với những con người khác với chúng ta, những người có những thần học khác, có những quan điểm chính trị khác, những người thích những món ăn khác và những người nói những ngôn ngữ khác. Sống với họ đôi khi có thể là tuyệt vời đấy nhưng cũng sẽ không thiếu những khó khăn. Sống với họ chúng ta sẽ bị cám dỗ rèn những chiếc liềm cắt cỏ của chúng ta thành gươm dài để chiến đấu thay vì ngược lại. Nhưng đời sống chung của chúng ta là một dấu chỉ về Vương Quốc chính vì những khác biệt của chúng ta ấy. Một cộng đoàn gồm những cá nhân nhưng tất cả đều cảm nghĩ cùng một chuyện không phải là dấu chỉ về Vương Quốc. Cộng đoàn không có nghĩa gì ngoài chính cộng đoàn.

Tôi đã sống một năm ở Pháp hồi còn là sinh viên trong Dòng Đa Minh. Thật là vừa tuyệt vời nhưng cũng là kinh khủng. Có một ngày, tôi ngồi với bốn anh Đa Minh Pháp rất thông minh, dường như các anh không coi điều tôi nói là đáng giá chút nào, tôi đã chấm hết cuộc nói chuyện bằng phát biểu : “Bây giờ thì tôi biết tại sao ông Descartes lại là người Pháp. Là vì ở Pháp, nếu các anh không chứng minh được rằng các anh hiện hữu, thì chẳng còn lý do gì để tin rằng các anh đang hiện hữu nữa !”. Thế nhưng chính khi sống với những người anh em Pháp này mà tôi khám phá thấy rằng chúng ta chỉ có thể trở thành những dấu chỉ của Vương Quốc bằng cách chịu đựng và thưởng nếm sự khác biệt .

Dấu chỉ mạnh mẽ nhất của tất cả điều đó, chính là cùng với người anh em của tôi tên là Yvon tôi từng gặp, khi thăm Rwanda và Burundi vào những năm khó khăn. Yvon biết nhiều hơn tôi khó khăn ở điểm nào. Quả là gay go khi ngồi ăn chung bàn và vào nhà thờ cầu nguyện với những người đã sát hại những người anh em chị em của mình. Nhưng chính nỗi đau thương này cũng là một cách để diễn tả niềm hy vọng.

Cám dỗ đối với xã hội của chúng ta là chỉ tìm kiếm cộng đoàn với những con người suy nghĩ giống chúng ta, chia sẻ những ý kiến của chúng ta, những tiên kiến và đồng huyết thống với chúng ta. Những người bảo thủ năng đi lại với những người bảo thủ, còn những người cấp tiến năng thăm viếng những người cấp tiến. Những người già nua tuổi tác thì được gửi vào các nhà hưu, các nhà dưỡng lão, thanh niên trai trẻ thì chung sống vui đùa với trai trẻ thanh niên, và cứ như thế … Bà Thatcher có thói quen tìm hiểu con người bằng cách hỏi rằng : “Thế tay đấy có đứng về phía chúng ta không ?”. Cần phải loại đi cám dỗ này. Thay vì tìm kiếm sự giống nhau đồng loạt như những cục đá cho vào ly để uống bia, chúng ta phải là một cái lẩu trong đó có nhiều thứ và nhiều gia vị để có thể thưởng thức.

Thắt chặt mối dây bằng hữu vượt qua mọi thứ chia rẽ”
Tại nhiều nước, Hội Thánh bị phân ra cách sâu xa giữa một bên là những người tự xưng là bảo thủ với bên kia là những người tiến bộ. Có sự thù địch thực sự, một sự giận dữ thực sự đối với những người “ở tuyến bên kia”. Vai trò ngôn sứ của chúng ta cốt yếu là thắt chặt những mối dây bằng hữu vượt qua mọi thứ chia rẽ. Đối kháng giữa hữu với tả, giữa duy truyền thống với duy tiến bộ, là sản phẩm của Thời đại Ánh Sáng, hồi thế kỷ thứ mười tám, và chả có gì là công giáo ở đó cả. Chúng ta hết thảy, nam cũng như nữ, đều nhất thiết là vừa bảo thủ, gắn bó với Tin Mừng và với truyền thống, lại vừa tiến bộ, tức là đang mong mỏi Vương Quốc. Quả là có một số người nam nữ có những tính khí thiên về bảo thủ hoặc thiên về tiến bộ, nhưng đối với chúng ta, không thể nào lại có đối kháng cơ bản và không thể giải quyết được giữa truyền thống và biến chuyển. Vì thế, trong các cộng đoàn của chúng ta, chúng ta phải biết từ khước, không để cho mình bị phân chia thành những chiến tuyến đối nghịch với nhau.

Một trong những thách đố là làm sao vượt qua được cái hố ngăn cách giữa các thế hệ. Trong cộng đoàn của tôi ở Oxford, có tới bốn thế hệ. Có một người anh em đáng kính đã được đào tạo theo truyền thống cổ điển trước Công Đồng. Có bốn hoặc năm người anh em cùng thế hệ với tôi đã sống những năm đầy phấn khích nhưng cũng rất ồn ào sau Công Đồng. Có một nhóm đông hơn đến từ cái người ta đôi khi gọi là “thế hệ Gioan-Phaolô II”, phản ứng lại những gì các anh em ấy coi là chủ nghĩa tự do hoang dã của thế hệ chúng tôi. Và nay, có “thế hệ Y”, thuộc về giữa hoặc cuối tuổi hai mươi, lại là chuyện khác nữa. Một cộng đoàn chỉ có thể phát triển tốt đẹp nếu như cộng đoàn ấy dám đón nhận những người trẻ, chất vấn họ và để cho họ chất vấn lại mình, vì biết rằng họ sẽ chẳng bao giờ giống như chúng ta được. Nhiều hội dòng đang ngấp ngoái bởi vì các hội dòng ấy không chấp nhận rằng những người trẻ phải khác chúng ta. Khi tôi còn là một người anh em trẻ, bấy giờ chúng tôi có một người anh em cao tuổi cừ khôi tên là Gervais : đấy là một nhà bác học có tiếng và thường có những lập luận đối lại với những tư tưởng điên rồ của bọn trẻ, nhưng được một điều là mỗi khi đến lúc bỏ phiếu biểu quyết, thì người anh em ấy lại luôn đứng vào hàng ngũ chúng tôi bởi vì, không có những người trẻ, sẽ không có tương lai.

Khả năng của chúng ta để chịu đựng sự khác biệt, và đi đến chỗ quí chuộng sự khác biệt, cũng là thành phần của chứng từ chúng ta trao tặng cho Hội Thánh. Công Đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh đến Hội Thánh địa phương, được qui tụ chung quanh vị giám mục. Điều ấy quả là tốt và cũng thật là đẹp. Nhưng ngay cả Hội Thánh phẩm trật cũng cần có những tu sĩ với những đoàn sủng khác biệt và những ơn gọi khác biệt nữa. Hội Thánh phẩm trật cần những người chiêm niệm để chống lại sự lăng xăng bận bịu của thế gian, và cần những người tu hành để làm việc với những người nghèo khổ và những người bị loại trừ, hoặc để thi hành một công việc tông đồ trí thức. Chúng ta cần sự khác biệt đáng chiêm ngưỡng của các linh đạo tu trì khác nhau : của Dòng Phan sinh, của Dòng Tên Chúa Giêsu, của Dòng Đa Minh, của Dòng Cát Minh …

Cám dỗ đối với Hội Thánh phẩm trật, đó là khuynh hướng thiên về sự đồng nhất. Sự thống nhất có khuynh hướng xoay chiều sang sự áp đặt để đồng nhất. Nhưng như chúng ta đã thấy, một cộng đoàn tu trì, do tính cách ly tâm của nó, có thể giúp Hội Thánh giữ được hướng đi tiến về Vương Quốc. Điều đó đúng từ thời các lão phụ và lão mẫu sa mạc đề ra lối sống lạ thường của mình, nay đã có tới hơn một nghìn sáu trăm năm. Chúng ta giống như những chú hề ngày xưa trong triều đình của nhà vua, họ có quyền tự do muốn nói gì thì nói, thậm chí chọc ghẹo cả Chúa Thượng nữa ! Thiếu sự tự do này, Hội Thánh sẽ chết !

Phái đi thi hành sứ vụ

Chúng ta không chỉ được mời gọi đi vào sống trong cộng đoàn mà thôi, chúng ta cũng được phái đi thi hành sứ vụ nữa. Điều ấy cũng nói về Vương Quốc và về niềm hy vọng của chúng ta đối với nhân loại. Đức Giêsu đã được Chúa Cha phái đến với chúng ta. Cuối mỗi Thánh lễ, chúng ta được phái đi. Đây là một dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, Đấng chẳng quên ai và sẽ qui tụ toàn thể nhân loại vào trong Vương Quốc.

Tôi rất cảm động khi nói chuyện với một người anh em tên là Pedro, ở Amazon. Đấy là một con người học rộng, làm được đủ chuyện. Thay vì đó, anh chấp nhận để được phái đi thi hành tác vụ ở một góc xa xôi heo hút trong rừng già. Anh dành phần lớn thời gian để đi bộ và lái ca-nô đi thăm những cộng đoàn người bản xứ nhỏ bé mà thế giới chưa từng biết đến. Cách nào đó, khi hiến thân cho những con người ấy, Pedro mất hút, chia sẻ tính cách bất khả thị, không được ai nhìn thấy, của những người bản xứ kia. Nhưng anh tìm được niềm vui ở nơi xa xôi ấy bởi vì đó là ơn gọi của anh. Đó là một dấu chỉ cho thấy rằng những dân tộc mà chúng ta chưa hề biết đến, chưa hề để ý đến kia không hề bị Thiên Chúa lãng quên. Nhờ sự chăm sóc anh chị em dành cho những người bị loại trừ, anh chị em thành một dấu chỉ của ký ức không hề tàn lụi mà Thiên Chúa có đối với mỗi một ngôi vị con người.

Sai phái lẫn nhau
Điều quan trọng là anh Pedro không chỉ đơn giản chọn đi tới nơi ấy. Anh được phái đến đấy. Chính sự kiện được phái đi mới thật là một dấu chỉ cho thấy sự chú ý của riêng Thiên Chúa chứ không phải là một sự nghiệp như bao sự nghiệp khác. Còn chúng ta, chúng ta có dám phái đi và có dám để cho mình được phái đi không ? Nhiều hội dòng không còn can đảm để làm việc ấy nữa. Trong một cuộc họp ở Hiệp chủng quốc, một người chị em đã thổ lộ với tôi rằng chị đã sống trong đời tu hai mươi năm và chẳng có ai yêu cầu chị làm bất cứ chuyện gì bao giờ cả. Chị có thể chọn sứ vụ nào tùy chị muốn. Chị cũng thưa như ngôn sứ Isaia: “Này, con đây. Xin cứ sai con”, nhưng vô ích, chẳng hề có ai sai phái chị bao giờ !

Tại sao một số hội dòng lại sợ sai phái anh chị em mình như thế ? Có nhiều lý do. Một số vị bề trên nam hoặc nữ thời tiền Công Đồng hơi có tính cách độc tài và quyết định một cách tùy tiện : các thành viên vì thế bị tổn thương nặng đến nỗi ngày nay những người có trách nhiệm ngần ngại khi phải sai phái một ai đó. Sau những lạm dụng như thế về lời khấn hứa tuân phục, chúng ta không còn dám sai phái nữa. Một lý do khác dính dáng đến sự biến mất của những sứ vụ truyền giáo cộng đoàn trong nhiều hội dòng nay không còn điều hành những bệnh viện, những trường tiểu học hoặc trung học, mà quay sang các xứ đạo để thi hành tác vụ tông đồ và bị chìm nghỉm do những cấu trúc của Hội Thánh địa phương. Như thế, không còn sứ vụ nữa thì sai phái những con người đi đâu bây giờ !

Nhưng tôi xác tín rằng để cho đời tu được phát triển tốt đẹp, chúng ta cần phải lấy lại can đảm để sai phái lẫn nhau, vì nếu làm khác đi chúng ta không sẽ đạt tới chỗ trở thành một dấu chỉ về ký ức của Thiên Chúa. Tôi sẽ chẳng bao giờ vào Dòng của các anh em Đa Minh nếu như người ta bấy giờ bảo tôi rằng tôi có thể làm bất cứ điều gì tôi muốn. Và những người trẻ ngày hôm nay sẽ không đến trừ phi họ biết rằng chúng ta sẽ yêu cầu họ làm những chuyện coi như điên rồ, những việc có thể ra như vượt quá khả năng của họ.

Đức Giêsu đã được phái đến để làm cho dung nhan của Chúa Cha mang lấy hình hài nhân loại. Người biết những con người. Gặp gỡ Đức Giêsu, chính là luôn luôn gặp gỡ một ai đó đã biết anh chị em trước. Người biết ông Nathanaen, rồi bấy giờ ông Nathanaen mới nhận ra Người. Người biết ông Dakêu đang ở trên cây vả. Người nhận ra cô Maria Magđala trong khu vườn, rồi bấy giờ cô ấy mới nhận ra Người : “Maria. – Rabbouni”. Ngày kia, ở Lima, tôi thấy tấm hình của một em bé bụi đời. Phía dưới tấm hình có hàng chữ : Saben que existo, pero no me ven, xin các bạn biết cho là tôi hiện hữu đây, nhưng các bạn lại không nhìn thấy tôi. Người ta biết em bé ấy hiện hữu xét như một vấn đề phải giải quyết, như một mối đe dọa phải đề phòng, nhưng người ta không nhìn thấy em, chính em. Các tu sĩ nam nữ được phái đến những nơi chốn bị quên lãng nhiều nhất, để làm dấu chỉ của Thiên Chúa là Đấng không quên ai bao giờ và là Đấng nhận ra những khuôn mặt.

Giữ lấy lòng tin tưởng

Để kết : ở thời đại nhân loại đang phải chịu một cơn khủng hoảng về niềm hy vọng, đời tu có thể là một dấu chỉ nhỏ bé về Vương Quốc. Chúng ta là một dấu chỉ trước hết do ơn gọi của chúng ta. Chúng ta làm cho ơn gọi của tất cả nhân loại đã được Thiên Chúa mời gọi đến Vương Quốc trở thành khả thị, có thể nhìn thấy được. Chúng ta là một dấu chỉ của Vương Quốc vì chúng ta được mời gọi vào sống trong cộng đoàn và vì chúng ta dám sống với những con người khác chúng ta. Một cách ngôn sứ, chúng ta từ chối sự yên ổn của một mái ấm tạo nên nhờ những con người suy nghĩ giống như chúng ta. Và chúng ta là một dấu chỉ vì chúng ta được phái đi thi hành sứ vụ ở bên ngoài cộng đoàn, để nêu lên ý nghĩa của tình yêu và ký ức vô biên vô tận của Thiên Chúa. Làm một dấu chỉ như thế, kể cũng bõ công. Hội Thánh và xã hội hơn bao giờ hết đang cần đến dấu chỉ này. Vậy, chúng ta hãy tin tưởng. Chúng ta không chấm hết !

Québec, ngày 6 tháng sáu năm 2008

Aucun commentaire: