mardi 7 avril 2015

thư thứ hai của thánh phaolô gửi ông timôthê (4,1-6)

Bài giảng trong giờ Kinh Chiều
Vương Cung Thánh Đường Sainte-Anne-de-Beaupré
Ngày 7 tháng sáu năm 2008

THƯ THỨ HAI CỦA THÁNH PHAOLÔ GỬI ÔNG TIMÔTHÊ (4,1-6)

Anh Yvon đã bảo tôi là phải giảng một bài dài ! Nhưng tôi hy vọng là không làm như những nhà giảng thuyết puritains. Người ta bảo rằng những người này giảng dài lắm đến nỗi hội dòng cuối cùng phải thức dậy !

Tôi thề trước mặt Thiên Chúa và trước mặt Đức Kitô Giêsu, Đấng phải phán xét kẻ sống và kẻ chết, nhân vì sự Xuất hiện của Người và của Vương Triều Người : anh hãy công bố lời, hãy nhấn mạnh lúc thuận cũng như lúc không thuận, hãy phi bác, ngăm đe, khuyên nhủ với một lòng kiên nhẫn không mỏi mệt và lưu tâm dạy dỗ”.

Thánh Phaolô viết cho ông Timôthê, vị thánh quan thầy của tôi, vì thế tôi phải đón nhận sứ điệp của người thật nghiêm túc ! Thánh Phaolô có một cảm tưởng vô cùng mạnh mẽ về sự cấp bách. Đây là vấn đề sống hoặc chết. Không được chần chừ. Thông thường, chúng ta không có cái cảm tưởng về sự cấp bách tuyệt đối phải chia sẻ đức tin của chúng ta với những người khác ? Tại sao ?

Thánh Phaolô nêu lên Đức Giêsu, vị thẩm phán người sống và kẻ chết. Nhiều Kitô hữu vẫn ngỡ rằng con người ta nếu không nghe giảng Tin Mừng, hối cải và chịu phép rửa sẽ xuống hỏa ngục. Thánh Phanxicô Xaviê đã rảo khắp châu Á, làm phép rửa cho nhiều triệu con người để cứu họ thoát khỏi hỏa ngục. Năm 1543, thánh nhân viết cho trung ương của các anh em dòng Tên ở Rôma : “Ý tưởng thường nảy sinh trong tôi là phải đi một vòng các đại học ở châu Âu, và đặc biệt là ở Paris, để la lớn khắp nơi như một thằng điên mà nói cho mọi người thông thái cũng như cho tất cả những người mà sự hiểu biết của họ lớn hơn lòng mến của họ : Biết bao linh hồn, một đoàn người đông đảo biết dường nào, vì lỗi của các vị, mà phải loại ra khỏi thiên đàng mà lao xuống hỏa ngục !”.

Phép rửa của một em bé trong lúc em gặp nguy tử có thể thay đổi hoàn toàn vận mệnh vĩnh cửu của em. Một người anh em Đa Minh Ái nhĩ lan, giám mục Michael Brown, đã được một sơ rửa tội cho ngay từ lúc đức cha mới sinh. Nhiều năm sau, vị cựu tổng quyền của Dòng, bấy giờ đã là hồng y và là nhà thần học chính thức của Đức giáo hoàng, đến thăm người nữ tu nọ để cảm ơn bà. Bà nói với người rằng : “Thưa Đức hồng y, con không bao giờ quên ngày con rửa tội cho Đức hồng y nhân danh Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria và thánh cả Giuse”.

Tại sao hôm nay lại phải giảng thuyết Tin Mừng ?
Nhưng hôm nay, chúng ta chẳng còn tin là Thiên Chúa sẽ xô con người ta xuống hỏa ngục chỉ vì họ không chịu phép rửa. Chúng ta hiểu rõ hơn về việc con người ta đến với Thiên Chúa bằng mọi thứ nẻo đường như thế nào, họ đang tìm kiếm Thiên Chúa mỗi người theo cách thế của mình ra sao. Nhưng đã thế thì tại sao lại phải ưu tư lo lắng để giảng thuyết Tin Mừng ? Hai chuyện ăn nhập với nhau thế nào ? Phải chăng chúng ta muốn hết mọi người phải trở thành người Kitô hữu ? Người ta thậm chí còn nghĩ rằng tốt hơn là nên có một sự khác biệt nào đó về các truyền thống tôn giáo, mỗi truyền thống có sự khôn ngoan riêng của mình. Người ta có thể ủng hộ một sự cộng sinh khác biệt tôn giáo, một thứ môi trường sinh thái của đức tin và từ đó kết luận rằng sự độc nhất văn hóa của Kitô giáo có lẽ cũng không lành mạnh như chuyện trồng chỉ một loại cây trong nông nghiệp. Nhưng khi đó, tiếp nhận sứ điệp thánh Phaolô gửi cho ông Timôthê như thế nào ? “Anh hãy công bố lời, hãy nhấn mạnh lúc thuận cũng như lúc không thuận, hãy phi bác, ngăm đe, khuyên nhủ với một lòng kiên nhẫn không mỏi mệt và lưu tâm dạy dỗ”.

Chúng ta phải giảng thuyết Tin Mừng thật cấp bách bởi vì Tin Mừng là chân thật. Dĩ nhiên, chúng ta không sở hữu trọn vẹn chân lý. Chúng ta cần những chân lý của các tôn giáo khác. Đức cha Pierre Claverie, giám mục Đa Minh giáo phận Oran ở Algérie, từng nói : “Tôi không sở hữu chân lý, tôi cần chân lý của những người khác. Tôi là một người hành khất chân lý”. Nhưng trong khi cho là quan trọng việc học hỏi người ta, những con người có những niềm tin khác hoặc chẳng có niềm tin nào, chúng ta vẫn phải giảng thuyết Tin Mừng bởi vì Tin Mừng là chân thật và việc tìm kiếm chân lý bộc lộ cho thấy phẩm giá con người của chúng ta. Nói cho cùng, giấu người khác điều tôi tin là chân thật, do kính trọng những ý kiến của họ, đấy chỉ là hạ cố, là coi người khác thấp hơn mình.

Tôi phải nhận thật là tôi rất mến các chú chó. Khi tôi đến nhà chú Paul, em tôi, và thím Nora, thì tôi cũng sướng khi gặp lại Henrietta, một con chó Labrador rất tuyệt ! Henrietta nhìn thế giới bên ngoài bằng những ước muốn và những sợ hãi của nó. Nó nhìn thức ăn muốn ăn, nhìn thấy chim muốn đuổi, nhìn thấy những con người dạy nó với hy vọng là người ta cho nó cái gì ăn. Nhưng tôi không nghĩ Henrietta lại có bao giờ có cái thích thú về sự hiện hữu của vạn vật mà thôi. Đấy, đấy là ơn gọi của con người. Chúng ta vui thú về chân lý của vạn vật ! Tôi thấy thích thú về sự hiện hữu của Henrietta mà thôi, nhưng tôi không chắc là Henrietta cũng thích như thế khi nhìn tôi !

Nhu cầu chân lý
Ơn gọi của con người là vui vì cái mình đang là. Chúng ta có thể yêu rừng yêu cây mà không tính đến chuyện từ đó có tiền, chỉ đơn thuần là vì rừng cây hữu ích, đơn thuần vì rừng cây hiện hữu, có đó thôi. Và khi chúng ta yêu mến một ai đó, chúng ta thích thú vì sự hiện hữu của người đó mà thôi. Một ngày kia, chúng ta sẽ thấy được sự viên mãn của niềm vui chúng ta nơi Đấng là sự hiện hữu thuần túy và là Đấng mang Danh “Ta là Đấng Ta là (Đấng hiện hữu)”. Con cá cần nước để sống và lớn lên thế nào, con chim cần không khí, bầu trời thế nào, thì chúng ta cần chân lý cũng như thế : chân lý của người khác, chân lý của cái tôi là, chân lý của Thiên Chúa. Đó là dưỡng khí của chúng ta. Và do đó, chúng ta thuyết giảng Tin Mừng vì Tin Mừng là chân thật, và chúng ta trọng kính phẩm giá con người của tha nhân khi trình bày cho họ chân lý.

Một trong những cách thức làm cho thế giới chúng ta ra phi nhân, đó là đánh mất lòng yêu mến sự chân thật. Khi người ta chứng minh cho một nhà chính trị biết rằng ông ta đã kể lại một chuyện dối trá, thay vì chỉ nói rằng : “Tôi lấy làm tiếc vì đã nói dối”, ông ta lại thấy chỉ cần thú nhận chung chung là “một sự sai lầm trong phán đoán”. Ông ta đã sai lầm khi tin rằng ông có thể nói dối mà không bị lột mặt nạ, chứ không phải sai lầm của việc nghĩ rằng nói dối là xấu, một sự dữ.

Nhà viết kịch người Mỹ, Stephen Colbert, đã sáng chế ra một từ mới : “truthiness”. Tôi không biết dịch ra tiếng Pháp thế nào ! Chúng ta nói : cái mệnh danh là chân lý hay “chân lý của tôi”. Truthiness, chính là một cái gì đó, bất cứ cái gì mà ai đó cho là mình biết theo cách trực giác, không cần nại đến kinh nghiệm hoặc các sự kiện. Nếu như tôi cảm thấy rằng cái gì đó là chân thật hoặc phải là chân thật, bấy giờ đó là chân thật “đối với tôi”. Đó là “chân lý của tôi”. Thomas Kohnstamm đã viết một phần lớn cuốn Chỉ nam Lonely Planet về Colombia. Sau đó, người ta biết rằng ông ta chưa bao giờ đặt chân lên đó. Nhưng không quan trọng, ông ta đã miêu tả những chuyện như ông cảm thấy những chuyện đó phải là. Pierre Bayard đã viết một cuốn sách lương thiện hơn nhiều và đã đặt cho cuốn sách ấy cái tựa đề : Comment parler des livres que vous n’avez pas lus, Làm thế nói nói về những cuốn sách mà bạn không đọc. Nhiều người bị phát hiện là đã viết những tự truyện về những cuộc đời mà họ không sống trước đó.

Thánh Phaolô cảnh giác ông Timôthê rằng sẽ đến một thời con người ta “ngoảnh tai đi không nghe chân lý mà quay sang những chuyện hoang đường”. Một trong những chuyện hoang đường đang mê hoặc xã hội chúng ta, đó là thích cái mệnh danh là chân lý hơn là chân lý. Điều này tai hại cho chúng ta cũng tương đương như nước dòng sông bị ô nhiễm làm hại đàn cá. Nhưng người ta không thể loại bỏ hoàn toàn bản năng của con người là hướng đến chân lý. Nếu chúng ta tuyên xưng đức tin của chúng ta, trong sáng rõ ràng, đức tin ấy sẽ gặp gỡ một nỗi khát khao chân lý căn bản nơi những hữu thể nhân linh. Chúng ta phải chứng minh vẻ đẹp của chân lý Tin Mừng và việc ấy sẽ kéo theo một phản ứng, cũng tựa như mưa rào trong sa mạc làm đâm chồi nảy lộc mọi thứ hoa vốn nằm im trong cát từ nhiều thế kỷ.

Một vị tuyên úy đại học thấy một cô gái tất tả chạy tới chỗ ông như muốn nói cho ông biết niềm phấn khởi của cô vì đã khám phá ra Phật giáo và quyết định trở thành một Phật tử. Vị tuyên úy trả lời : “Thế bạn có nghe nói đến tôn giáo bảo rằng Thiên Chúa đã trở nên hoàn toàn giống như chúng ta đây để cho chúng ta có thể trở thành hoàn toàn như Thiên Chúa chưa ? – Chưa, chuyện ấy xem chừng khủng khiếp quá. Thế tôn giáo ngoại thường ấy là gì ? Tôi muốn theo tôn giáo ấy. – Kitô giáo”.

Đương đầu với những thắc mắc và những nghi ngờ
Những chúng ta chỉ có thể làm chứng về vẻ đẹp của chân lý với điều kiện chính chúng ta cũng phải thật. Thường, trong Hội Thánh, người ta sợ chân lý. Thánh Ambrôsiô, giám mục Milanô, bảo rằng bổn phận đầu tiên của một vị giám mục là nói điều mình tin thật sự. Và trong thực tiễn, điều đó cũng đúng với mỗi Kitô hữu nam hay nữ. Nhưng thường, chúng ta lại không làm như thế. Chúng ta im lặng không nói gì tới những thắc mắc và những nghi ngờ của chúng ta. Chúng ta nói điều người ta đang chờ để thấy chúng ta nói. Chúng ta đi theo con đường có sẵn từ lâu, ai sao ta vậy khỏi lo mệt trí. Và chúng ta cũng nhận thấy ngay rằng mình chẳng thuyết phục được ai !

Trong sách Tin Mừng của thánh Gioan, chứng nhân tiên khởi của sự Phục sinh chính là cô Maria Magđala, và người tông đồ đầu tiên tuyên xưng Đức Kitô là Thiên Chúa, chính là ông thánh Tôma, con người hay nghi ngờ. Cả hai cùng đến với đức tin bởi vì cả hai dám tìm kiếm, nghi ngờ, chất vấn, Cô Maria Magđala vẫn ở trong khu vườn vì cô thất vọng khi thấy ngôi mộ trống và cô bắt đầu đi tìm kiếm thi thể. Cô gặp Đức Giêsu, nhưng cô cứ yên trí là người làm vườn. Sau đó, mắt của cô mở ra và cô trở thành người nữ giảng thuyết tiên khởi, đó cũng là lý do tại sao cô lại là vị bổn mạng của Dòng Đa Minh.

Thánh Tôma là vị tông đồ hay nghi ngờ, là con người cần phải được thuyết phục, nhưng đấy cũng là con người đầu tiên thưa với Đức Giêsu : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”. Cho nên muốn là những chứng nhân chân thực, chúng ta không được sợ phải đương đầu với những thắc mắc và những nghi ngờ của chúng ta. Như thế, lời nói của chúng ta sẽ vang lên đúng đắn. Dostoievski đã viết trong một lá thư gửi cho một người bạn : “Không phải như một đứa trẻ mà tôi tin Đức Kitô và tôi tuyên xưng đức tin của em ấy vì tiếng hosanna của tôi đã băng qua một vực sâu của những nghi ngờ của tôi”.

Thánh Tôma Aquinô từng nói rằng sau cùng chúng ta chỉ tin hai điều thôi, hai credibilia, hai điều đáng tin : sự hiện hữu của Thiên Chúa và lòng mến của Thiên Chúa đối với chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô. Mỗi một từ trong kinh Tin Kính là một khai triển ý nghĩa của hai chân lý ấy. Nói được rằng xác quyết trọng yếu của đức tin chúng ta, chính là Thiên Chúa muốn cho chúng ta hạnh phúc, hạnh phúc ấy được ban cho chúng ta trong Đức Kitô. Sự tìm kiếm hạnh phúc này có thể đòi phải qua đau khổ, cái chết và phục sinh, nhưng đó là vận mệnh của chúng ta.

Đáp lại nỗi khát khao hạnh phúc
Từ ngữ “sách Tin Mừng” dĩ nhiên có nghĩa là chứa đựng “tin làm cho chúng ta vui, làm cho chúng ta mừng”. Mỗi lần chúng ta nghe công bố Sách Thánh trong Thánh lễ, chúng ta đáp lại “Tạ ơn Chúa”, “Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa”. Mỗi một từ trong Kinh Thánh giúp chúng ta hiểu tin vui kỳ diệu này : Thiên Chúa khao khát cho chúng ta được hạnh phúc và Người sẽ ban hạnh phúc cho chúng ta. Thế nhưng, rõ là chúng ta phải thuyết giảng sứ điệp này cách khẩn cấp, “lúc thuận cũng như lúc không thuận”. Chúng ta sống trong một thế giới trong đó con người ta tìm hạnh phúc mà thường là không thấy. Có một cơn dịch tự tử, nhất là nơi những người trẻ, từ Nhật Bổn cho tới Phần Lan. Chúng ta lặng thinh thế nào được khi những người trẻ của chúng ta đang chết vì bất hạnh ?

Thánh Phaolô viết cho ông Timôthê : “Tôi thề trước mặt Thiên Chúa và trước mặt Đức Kitô Giêsu, Đấng phải phán xét kẻ sống và kẻ chết, nhân vì sự Xuất hiện của Người và của Vương Triều Người”. Cuộc chung thẩm quả chẳng có vẻ gì là tin vui, tin mừng. người ta hay dùng hình ảnh ấy để làm cho con người sợ hãi. Nhưng ngay cả cuộc chung thẩm cũng là một tin mừng, vì nếu không đã chẳng được công bố trong sách Tin Mừng của chúng ta.

Chúng ta đang sống trong một xã hội mà những lời tố cáo nổ ra từ tứ phía. Báo chí và truyền hình xét xử các nhà chính trị và các thủ lĩnh tôn giáo hàng ngày, cáo buộc về những sai sót của họ. Chúng ta xét xử tha nhân vì họ béo phì, vì họ gầy đét hoặc vì họ hút thuốc lá. Chính chúng ta cũng có lỗi vì chúng ta không tỏ ra hữu hiệu trong công việc làm, vì chúng ta không xây đắp lòng yêu mến cho tử tế, vì chúng ta là những anh chàng lực sĩ khốn khổ hoặc vì chúng ta là những kẻ biếng lười. Chúng ta chịu sự xét xử của những người thuê mướn chúng ta, gia đình chúng ta, bạn bè và ngay cả chính sự xét xử của chúng ta nữa. Nhưng tin mừng, đó là “kẻ tố cáo những người anh em và những người chị em chúng ta đã bị loại ra” (Kh 12,10). Rốt cuộc, chỉ có mỗi một Đấng thẩm phán là Đức Giêsu Kitô, mà đấy lại là một Đấng thẩm phán thương xót và thứ tha tất cả. Người đã tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta rồi !

Khi người anh em Đa Minh của chúng tôi là Savonarola bị kết án, vị giám mục công bố án quyết đã tuyên bố : “Tôi khai trừ anh ra khỏi Hội Thánh đang chiến đấu và khỏi Hội Thánh đã toàn thắng”. Savonarola lập tức đáp lại rằng vị giám mục chẳng có quyền gì để khai trừ anh ra khỏi Hội Thánh đã toàn thắng, tức là cộng đoàn của các phúc nhân. Quyền ấy được dành cho Đức Giêsu Kitô, Vị thẩm phán đầy thương xót của chúng ta. Chẳng ai có thể loại chúng ta ra khỏi hạnh phúc chung cuộc của chúng ta cả, trừ ra chính chúng ta.

Vậy, chúng ta hãy thuyết giảng chân lý của Tin Mừng với niềm đam mê, với lòng can đảm và được thúc đẩy bởi một tâm tình cấp bách. Các hữu thể nhân linh được làm nên để hướng về chân lý và, nếu chúng ta không chịu chia sẻ cho tha nhân điều chúng ta tin là chân lý tức là chúng ta đối xử với họ không trọn vẹn là những con người. Nhưng chúng ta sẽ là những chứng nhân thuyết phục của chân lý nếu chúng ta dám nghi ngờ, chất vấn, tìm kiếm như cô Maria Magđala và như thánh Tôma, con người hay thắc mắc. Và dừng quên rằng chúng ta chỉ giảng thuyết Tin Mừng khi chúng ta chứng minh rằng chúng ta đang hứa hẹn hạnh phúc. Đó là sứ điệp thế giới chúng ta đang chờ, là điều thế giới chúng ta đang muốn được nghe.

Timothy Radcliffe, o,p,

Aucun commentaire: