Bài
giảng trong giờ Kinh Chiều
Vương
Cung Thánh Đường Sainte-Anne-de-Beaupré
Ngày
7 tháng sáu năm 2008
THƯ
THỨ HAI CỦA THÁNH PHAOLÔ GỬI ÔNG TIMÔTHÊ (4,1-6)
Anh
Yvon đã bảo tôi là phải giảng một bài dài ! Nhưng tôi
hy vọng là không làm như những nhà giảng thuyết
puritains. Người ta bảo rằng những người này giảng dài
lắm đến nỗi hội dòng cuối cùng phải thức dậy !
“Tôi
thề trước mặt Thiên Chúa và trước mặt Đức Kitô
Giêsu, Đấng phải phán xét kẻ sống và kẻ chết, nhân
vì sự Xuất hiện của Người và của Vương Triều Người
: anh hãy công bố lời, hãy nhấn mạnh lúc thuận cũng
như lúc không thuận, hãy phi bác, ngăm đe, khuyên nhủ với
một lòng kiên nhẫn không mỏi mệt và lưu tâm dạy dỗ”.
Thánh
Phaolô viết cho ông Timôthê, vị thánh quan thầy của tôi,
vì thế tôi phải đón nhận sứ điệp của người thật
nghiêm túc ! Thánh Phaolô có một cảm tưởng vô cùng mạnh
mẽ về sự cấp bách. Đây là vấn đề sống hoặc chết.
Không được chần chừ. Thông thường, chúng ta không có
cái cảm tưởng về sự cấp bách tuyệt đối phải chia
sẻ đức tin của chúng ta với những người khác ? Tại
sao ?
Thánh
Phaolô nêu lên Đức Giêsu, vị thẩm phán người sống và
kẻ chết. Nhiều Kitô hữu vẫn ngỡ rằng con người ta
nếu không nghe giảng Tin Mừng, hối cải và chịu phép
rửa sẽ xuống hỏa ngục. Thánh Phanxicô Xaviê đã rảo
khắp châu Á, làm phép rửa cho nhiều triệu con người để
cứu họ thoát khỏi hỏa ngục. Năm 1543, thánh nhân viết
cho trung ương của các anh em dòng Tên ở Rôma : “Ý tưởng
thường nảy sinh trong tôi là phải đi một vòng các đại
học ở châu Âu, và đặc biệt là ở Paris, để la lớn
khắp nơi như một thằng điên mà nói cho mọi người
thông thái cũng như cho tất cả những người mà sự hiểu
biết của họ lớn hơn lòng mến của họ : Biết bao linh
hồn, một đoàn người đông đảo biết dường nào, vì
lỗi của các vị, mà phải loại ra khỏi thiên đàng mà
lao xuống hỏa ngục !”.
Phép
rửa của một em bé trong lúc em gặp nguy tử có thể thay
đổi hoàn toàn vận mệnh vĩnh cửu của em. Một người
anh em Đa Minh Ái nhĩ lan, giám mục Michael Brown, đã được
một sơ rửa tội cho ngay từ lúc đức cha mới sinh. Nhiều
năm sau, vị cựu tổng quyền của Dòng, bấy giờ đã là
hồng y và là nhà thần học chính thức của Đức giáo
hoàng, đến thăm người nữ tu nọ để cảm ơn bà. Bà
nói với người rằng : “Thưa Đức hồng y, con không bao
giờ quên ngày con rửa tội cho Đức hồng y nhân danh Chúa
Giêsu, Đức Mẹ Maria và thánh cả Giuse”.
Tại
sao hôm nay lại phải giảng thuyết Tin Mừng ?
Nhưng
hôm nay, chúng ta chẳng còn tin là Thiên Chúa sẽ xô con
người ta xuống hỏa ngục chỉ vì họ không chịu phép
rửa. Chúng ta hiểu rõ hơn về việc con người ta đến
với Thiên Chúa bằng mọi thứ nẻo đường như thế nào,
họ đang tìm kiếm Thiên Chúa mỗi người theo cách thế
của mình ra sao. Nhưng đã thế thì tại sao lại phải ưu
tư lo lắng để giảng thuyết Tin Mừng ? Hai chuyện ăn
nhập với nhau thế nào ? Phải chăng chúng ta muốn hết
mọi người phải trở thành người Kitô hữu ? Người ta
thậm chí còn nghĩ rằng tốt hơn là nên có một sự khác
biệt nào đó về các truyền thống tôn giáo, mỗi truyền
thống có sự khôn ngoan riêng của mình. Người ta có thể
ủng hộ một sự cộng sinh khác biệt tôn giáo, một thứ
môi trường sinh thái của đức tin và từ đó kết luận
rằng sự độc nhất văn hóa của Kitô giáo có lẽ cũng
không lành mạnh như chuyện trồng chỉ một loại cây
trong nông nghiệp. Nhưng khi đó, tiếp nhận sứ điệp
thánh Phaolô gửi cho ông Timôthê như thế nào ? “Anh
hãy công bố lời, hãy nhấn mạnh lúc thuận cũng như lúc
không thuận, hãy phi bác, ngăm đe, khuyên nhủ với một
lòng kiên nhẫn không mỏi mệt và lưu tâm dạy dỗ”.
Chúng
ta phải giảng thuyết Tin Mừng thật cấp bách bởi vì
Tin Mừng là chân thật. Dĩ nhiên, chúng ta không sở hữu
trọn vẹn chân lý. Chúng ta cần những chân lý của các
tôn giáo khác. Đức cha Pierre Claverie, giám mục Đa Minh
giáo phận Oran ở Algérie, từng nói : “Tôi không sở hữu
chân lý, tôi cần chân lý của những người khác. Tôi là
một người hành khất chân lý”. Nhưng trong khi cho là
quan trọng việc học hỏi người ta, những con người có
những niềm tin khác hoặc chẳng có niềm tin nào, chúng
ta vẫn phải giảng thuyết Tin Mừng bởi vì Tin Mừng là
chân thật và việc tìm kiếm chân lý bộc lộ cho thấy
phẩm giá con người của chúng ta. Nói cho cùng, giấu
người khác điều tôi tin là chân thật, do kính trọng
những ý kiến của họ, đấy chỉ là hạ cố, là coi
người khác thấp hơn mình.
Tôi
phải nhận thật là tôi rất mến các chú chó. Khi tôi
đến nhà chú Paul, em tôi, và thím Nora, thì tôi cũng sướng
khi gặp lại Henrietta, một con chó Labrador rất tuyệt !
Henrietta nhìn thế giới bên ngoài bằng những ước muốn
và những sợ hãi của nó. Nó nhìn thức ăn muốn ăn,
nhìn thấy chim muốn đuổi, nhìn thấy những con người
dạy nó với hy vọng là người ta cho nó cái gì ăn. Nhưng
tôi không nghĩ Henrietta lại có bao giờ có cái thích thú
về sự hiện hữu của vạn vật mà thôi. Đấy, đấy là
ơn gọi của con người. Chúng ta vui thú về chân lý của
vạn vật ! Tôi thấy thích thú về sự hiện hữu của
Henrietta mà thôi, nhưng tôi không chắc là Henrietta cũng
thích như thế khi nhìn tôi !
Nhu
cầu chân lý
Ơn
gọi của con người là vui vì cái mình đang là. Chúng ta
có thể yêu rừng yêu cây mà không tính đến chuyện từ
đó có tiền, chỉ đơn thuần là vì rừng cây hữu ích,
đơn thuần vì rừng cây hiện hữu, có đó thôi. Và khi
chúng ta yêu mến một ai đó, chúng ta thích thú vì sự
hiện hữu của người đó mà thôi. Một ngày kia, chúng
ta sẽ thấy được sự viên mãn của niềm vui chúng ta
nơi Đấng là sự hiện hữu thuần túy và là Đấng mang
Danh “Ta là Đấng Ta là (Đấng hiện hữu)”. Con cá cần
nước để sống và lớn lên thế nào, con chim cần không
khí, bầu trời thế nào, thì chúng ta cần chân lý cũng
như thế : chân lý của người khác, chân lý của cái tôi
là, chân lý của Thiên Chúa. Đó là dưỡng khí của chúng
ta. Và do đó, chúng ta thuyết giảng Tin Mừng vì Tin Mừng
là chân thật, và chúng ta trọng kính phẩm giá con người
của tha nhân khi trình bày cho họ chân lý.
Một
trong những cách thức làm cho thế giới chúng ta ra phi
nhân, đó là đánh mất lòng yêu mến sự chân thật. Khi
người ta chứng minh cho một nhà chính trị biết rằng
ông ta đã kể lại một chuyện dối trá, thay vì chỉ nói
rằng : “Tôi lấy làm tiếc vì đã nói dối”, ông ta
lại thấy chỉ cần thú nhận chung chung là “một sự
sai lầm trong phán đoán”. Ông ta đã sai lầm khi tin rằng
ông có thể nói dối mà không bị lột mặt nạ, chứ
không phải sai lầm của việc nghĩ rằng nói dối là xấu,
một sự dữ.
Nhà
viết kịch người Mỹ, Stephen Colbert, đã sáng chế ra một
từ mới : “truthiness”.
Tôi không biết dịch ra tiếng Pháp thế nào ! Chúng ta nói
: cái mệnh danh là chân lý hay “chân lý của tôi”.
Truthiness,
chính là một cái gì đó, bất cứ cái gì mà ai đó cho
là mình biết theo cách trực giác, không cần nại đến
kinh nghiệm hoặc các sự kiện. Nếu như tôi cảm thấy
rằng cái gì đó là chân thật hoặc phải là chân thật,
bấy giờ đó là chân thật “đối với tôi”. Đó là
“chân lý của tôi”. Thomas Kohnstamm đã viết một phần
lớn cuốn Chỉ nam Lonely
Planet về
Colombia. Sau đó, người ta biết rằng ông ta chưa bao giờ
đặt chân lên đó. Nhưng không quan trọng, ông ta đã miêu
tả những chuyện như ông cảm thấy những chuyện đó
phải là. Pierre Bayard đã viết một cuốn sách lương
thiện hơn nhiều và đã đặt cho cuốn sách ấy cái tựa
đề : Comment
parler des livres que vous n’avez pas lus,
Làm thế nói nói về những cuốn sách mà bạn không đọc.
Nhiều người bị phát hiện là đã viết những tự
truyện về những cuộc đời mà họ không sống trước
đó.
Thánh
Phaolô cảnh giác ông Timôthê rằng sẽ đến một thời
con người ta “ngoảnh tai đi không nghe chân lý mà quay
sang những chuyện hoang đường”. Một trong những chuyện
hoang đường đang mê hoặc xã hội chúng ta, đó là thích
cái mệnh danh là chân lý hơn là chân lý. Điều này tai
hại cho chúng ta cũng tương đương như nước dòng sông
bị ô nhiễm làm hại đàn cá. Nhưng người ta không thể
loại bỏ hoàn toàn bản năng của con người là hướng
đến chân lý. Nếu chúng ta tuyên xưng đức tin của chúng
ta, trong sáng rõ ràng, đức tin ấy sẽ gặp gỡ một nỗi
khát khao chân lý căn bản nơi những hữu thể nhân linh.
Chúng ta phải chứng minh vẻ đẹp của chân lý Tin Mừng
và việc ấy sẽ kéo theo một phản ứng, cũng tựa như
mưa rào trong sa mạc làm đâm chồi nảy lộc mọi thứ
hoa vốn nằm im trong cát từ nhiều thế kỷ.
Một
vị tuyên úy đại học thấy một cô gái tất tả chạy
tới chỗ ông như muốn nói cho ông biết niềm phấn khởi
của cô vì đã khám phá ra Phật giáo và quyết định trở
thành một Phật tử. Vị tuyên úy trả lời : “Thế bạn
có nghe nói đến tôn giáo bảo rằng Thiên Chúa đã trở
nên hoàn toàn giống như chúng ta đây để cho chúng ta có
thể trở thành hoàn toàn như Thiên Chúa chưa ? – Chưa,
chuyện ấy xem chừng khủng khiếp quá. Thế tôn giáo
ngoại thường ấy là gì ? Tôi muốn theo tôn giáo ấy. –
Kitô giáo”.
Đương
đầu với những thắc mắc và những nghi ngờ
Những
chúng ta chỉ có thể làm chứng về vẻ đẹp của chân
lý với điều kiện chính chúng ta cũng phải thật.
Thường, trong Hội Thánh, người ta sợ chân lý. Thánh
Ambrôsiô, giám mục Milanô, bảo rằng bổn phận đầu
tiên của một vị giám mục là nói điều mình tin thật
sự. Và trong thực tiễn, điều đó cũng đúng với mỗi
Kitô hữu nam hay nữ. Nhưng thường, chúng ta lại không
làm như thế. Chúng ta im lặng không nói gì tới những
thắc mắc và những nghi ngờ của chúng ta. Chúng ta nói
điều người ta đang chờ để thấy chúng ta nói. Chúng
ta đi theo con đường có sẵn từ lâu, ai sao ta vậy khỏi
lo mệt trí. Và chúng ta cũng nhận thấy ngay rằng mình
chẳng thuyết phục được ai !
Trong
sách Tin Mừng của thánh Gioan, chứng nhân tiên khởi của
sự Phục sinh chính là cô Maria Magđala, và người tông đồ
đầu tiên tuyên xưng Đức Kitô là Thiên Chúa, chính là
ông thánh Tôma, con người hay nghi ngờ. Cả hai cùng đến
với đức tin bởi vì cả hai dám tìm kiếm, nghi ngờ,
chất vấn, Cô Maria Magđala vẫn ở trong khu vườn vì cô
thất vọng khi thấy ngôi mộ trống và cô bắt đầu đi
tìm kiếm thi thể. Cô gặp Đức Giêsu, nhưng cô cứ yên
trí là người làm vườn. Sau đó, mắt của cô mở ra và
cô trở thành người nữ giảng thuyết tiên khởi, đó
cũng là lý do tại sao cô lại là vị bổn mạng của Dòng
Đa Minh.
Thánh
Tôma là vị tông đồ hay nghi ngờ, là con người cần
phải được thuyết phục, nhưng đấy cũng là con người
đầu tiên thưa với Đức Giêsu : “Lạy Chúa của con,
lạy Thiên Chúa của con”. Cho nên muốn là những chứng
nhân chân thực, chúng ta không được sợ phải đương
đầu với những thắc mắc và những nghi ngờ của chúng
ta. Như thế, lời nói của chúng ta sẽ vang lên đúng đắn.
Dostoievski đã viết trong một lá thư gửi cho một người
bạn : “Không
phải như một đứa trẻ mà tôi tin Đức Kitô và tôi
tuyên xưng đức tin của em ấy vì tiếng hosanna của tôi
đã băng qua một vực sâu của những nghi ngờ của tôi”.
Thánh
Tôma Aquinô từng nói rằng sau cùng chúng ta chỉ tin hai
điều thôi, hai credibilia,
hai điều đáng tin : sự hiện hữu của Thiên Chúa và
lòng mến của Thiên Chúa đối với chúng ta nơi Đức
Giêsu Kitô. Mỗi một từ trong kinh Tin Kính là một khai
triển ý nghĩa của hai chân lý ấy. Nói được rằng xác
quyết trọng yếu của đức tin chúng ta, chính là Thiên
Chúa muốn cho chúng ta hạnh phúc, hạnh phúc ấy được
ban cho chúng ta trong Đức Kitô. Sự tìm kiếm hạnh phúc
này có thể đòi phải qua đau khổ, cái chết và phục
sinh, nhưng đó là vận mệnh của chúng ta.
Đáp
lại nỗi khát khao hạnh phúc
Từ
ngữ “sách Tin Mừng” dĩ nhiên có nghĩa là chứa đựng
“tin làm cho chúng ta vui, làm cho chúng ta mừng”. Mỗi
lần chúng ta nghe công bố Sách Thánh trong Thánh lễ, chúng
ta đáp lại “Tạ ơn Chúa”, “Lạy Chúa Kitô, ngợi
khen Chúa”. Mỗi một từ trong Kinh Thánh giúp chúng ta
hiểu tin vui kỳ diệu này : Thiên Chúa khao khát cho chúng
ta được hạnh phúc và Người sẽ ban hạnh phúc cho chúng
ta. Thế nhưng, rõ là chúng ta phải thuyết giảng sứ điệp
này cách khẩn cấp, “lúc thuận cũng như lúc không
thuận”. Chúng ta sống trong một thế giới trong đó con
người ta tìm hạnh phúc mà thường là không thấy. Có
một cơn dịch tự tử, nhất là nơi những người trẻ,
từ Nhật Bổn cho tới Phần Lan. Chúng ta lặng thinh thế
nào được khi những người trẻ của chúng ta đang chết
vì bất hạnh ?
Thánh
Phaolô viết cho ông Timôthê : “Tôi
thề trước mặt Thiên Chúa và trước mặt Đức Kitô
Giêsu, Đấng phải phán xét kẻ sống và kẻ chết, nhân
vì sự Xuất hiện của Người và của Vương Triều
Người”. Cuộc
chung thẩm quả chẳng có vẻ gì là tin vui, tin mừng.
người ta hay dùng hình ảnh ấy để làm cho con người sợ
hãi. Nhưng ngay cả cuộc chung thẩm cũng là một tin mừng,
vì nếu không đã chẳng được công bố trong sách Tin
Mừng của chúng ta.
Chúng
ta đang sống trong một xã hội mà những lời tố cáo nổ
ra từ tứ phía. Báo chí và truyền hình xét xử các nhà
chính trị và các thủ lĩnh tôn giáo hàng ngày, cáo buộc
về những sai sót của họ. Chúng ta xét xử tha nhân vì
họ béo phì, vì họ gầy đét hoặc vì họ hút thuốc lá.
Chính chúng ta cũng có lỗi vì chúng ta không tỏ ra hữu
hiệu trong công việc làm, vì chúng ta không xây đắp lòng
yêu mến cho tử tế, vì chúng ta là những anh chàng lực
sĩ khốn khổ hoặc vì chúng ta là những kẻ biếng lười.
Chúng ta chịu sự xét xử của những người thuê mướn
chúng ta, gia đình chúng ta, bạn bè và ngay cả chính sự
xét xử của chúng ta nữa. Nhưng tin mừng, đó là “kẻ
tố cáo những người anh em và những người chị em chúng
ta đã bị loại ra” (Kh 12,10). Rốt cuộc, chỉ có mỗi
một Đấng thẩm phán là Đức Giêsu Kitô, mà đấy lại
là một Đấng thẩm phán thương xót và thứ tha tất cả.
Người đã tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta rồi !
Khi
người anh em Đa Minh của chúng tôi là Savonarola bị kết
án, vị giám mục công bố án quyết đã tuyên bố : “Tôi
khai trừ anh ra khỏi Hội Thánh đang chiến đấu và khỏi
Hội Thánh đã toàn thắng”. Savonarola lập tức đáp lại
rằng vị giám mục chẳng có quyền gì để khai trừ anh
ra khỏi Hội Thánh đã toàn thắng, tức là cộng đoàn
của các phúc nhân. Quyền ấy được dành cho Đức Giêsu
Kitô, Vị thẩm phán đầy thương xót của chúng ta. Chẳng
ai có thể loại chúng ta ra khỏi hạnh phúc chung cuộc của
chúng ta cả, trừ ra chính chúng ta.
Vậy,
chúng ta hãy thuyết giảng chân lý của Tin Mừng với niềm
đam mê, với lòng can đảm và được thúc đẩy bởi một
tâm tình cấp bách. Các hữu thể nhân linh được làm nên
để hướng về chân lý và, nếu chúng ta không chịu chia
sẻ cho tha nhân điều chúng ta tin là chân lý tức là
chúng ta đối xử với họ không trọn vẹn là những con
người. Nhưng chúng ta sẽ là những chứng nhân thuyết
phục của chân lý nếu chúng ta dám nghi ngờ, chất vấn,
tìm kiếm như cô Maria Magđala và như thánh Tôma, con người
hay thắc mắc. Và dừng quên rằng chúng ta chỉ giảng
thuyết Tin Mừng khi chúng ta chứng minh rằng chúng ta đang
hứa hẹn hạnh phúc. Đó là sứ điệp thế giới chúng
ta đang chờ, là điều thế giới chúng ta đang muốn được
nghe.
Timothy
Radcliffe, o,p,
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire