TÌNH
CẢM VÀ THÁNH THỂ
Đây
là bài thuyết trình của cha Timothy Radcliffe, o.p., cựu
Tổng quyền Dòng Anh Em Giảng Thuyết nhân Ngày Quốc Gia
Mục Vụ Giới Trẻ lần thứ 34 về Ơn Thiên Triệu, từ
08 đến 10 tháng mười năm 2004, tại Madrid (Tây Ban Nha),
do CONFER (Liên Hiệp tu sĩ Tây Ban Nha) tổ chức. Trong khung
cảnh cuộc gập gỡ này và trước gần 1000 tham dự viên,
cha Timothy Radcliffe, anh em giảng thuyết, cựu Tổng quyền
Dòng này, đã thuyết trình về đề tài “Tình cảm và
Thánh Thể”. Theo cha, điều can hệ nhất không phải là
nhốt bản thân mình trong cái lý tưởng về sự thanh
khiết, nhưng là khai triển khả năng yêu thương.
Bài
này được dịch từ Documentation
Catholique, 02
tháng giêng năm 2005, No 2327.
Tôi
không hiểu chắc chắn lắm về ý nghĩa của từ
afectividad trong
tiếng Tây Ban Nha. Trong tiếng Anh, từ affectivity
không chỉ nhằm nói đến khả năng yêu thương của chúng
ta, mà còn liên hệ đến cách thức chúng ta yêu thương
nữa, bởi lẽ chúng ta là những hữu thể có thân xác và
giới tính, những chủ thể có cảm xúc và đam mê. Trong
Kitô giáo, chúng ta nói rất nhiều về tình yêu, nhưng lắm
lúc tình yêu này xem ra hơi trừu tượng, chẳng thực tế
là mấy. Và lẽ tất nhiên chúng ta phải yêu thương như
chúng ta là, với tư cách là những con người có giới
tính, đầy ham muốn và những cảm xúc mãnh liệt, có nhu
cầu được quan hệ mật thiết và được gần gũi nhau
giữa người này với người kia.
Hẳn
chúng ta phải là những kẻ chẳng ra làm sao cả nên khi
nói về đề tài này mới thành ra lạ lẫm như vậy, vì
chưng Kitô giáo là tôn giáo mang tính xác phàm nhất, hơn
bất kỳ tôn giáo nào khác. Chúng ta thâm tín rằng Thiên
Chúa đã sáng tạo nên những thân xác này, và Người đã
thấy chúng ta tuyệt mỹ biết bao. Thiên Chúa đã đến
trong xác phàm để cư ngụ giữa chúng ta, đã trở nên
một người phàm như chúng ta. Đức Giêsu đã tặng ban
cho chúng ta bí tích thân mình Người và Người đã hứa
phục sinh thân xác chúng ta. Và như thế, đáng nhẽ chúng
ta phải cảm thấy như được ở trong chính ngôi nhà của
mình khi sống trong bản tính xác phàm của chúng ta, với
những đam mê của nó và lẽ ra cũng phải cảm thấy
thoải mái khi nói về sự yêu thương ! Ấy thế nhưng rất
thường, khi Hội Thánh lên tiếng nói về yêu thương thì
người ta vẫn cứ là hoài nghi. Chúng ta hầu như chẳng
có chút thế giá nào khi nói về tính dục ! Thiên Chúa đã
nhập thể trong Đức Giêsu Kitô, nhưng chúng ta, chúng ta
vẫn còn cần phải học cho biết cách nhập thể chính
mình vào trong thân xác chúng ta. Chúng ta phải hạ cánh
trở lại trên mặt đất này.
Ngày
kia, khi thánh Gioan Kim Khẩu đang thuyết giảng về đề
tài tính dục, thấy thính giả đỏ mặt, người đâm ra
hơi bực : “Sao
anh chị em lại đỏ mặt ? Phải chăng đấy không phải
là chuyện trong sáng ? Anh chị em đang xử sự như những
người lạc giáo đấy nhá !”
Cho rằng phải phớt tỉnh ăng-lê về tính dục là một
khiếm khuyết đối với sự thanh khiết đích thực, và
chí ít theo thánh Tôma Aquinô (II-III,
142,1), đây là
một khiếm khuyết về luân lý ! Chính vì để giống một
chút như những hữu thể có giới tính và đam mê này,
chúng ta cần phải học cho biết yêu thương. Nếu khác
đi, có lẽ chúng ta sẽ chẳng có gì để nói về Thiên
Chúa, Đấng là Tình Yêu.
Tôi
xin nói về Bữa Tiệc Ly và về tính dục. Nói thế xem ra
là kỳ cục đấy, nhưng xin anh chị em cũng ngẫm nghĩ đôi
chút. Những lời trọng tâm của Bữa Tiệc Ly là : “Đây
là mình Thầy, và Thầy hiến tặng cho anh em”. Thánh Thể,
cũng như giới tính, được đặt trọng tâm trên việc
hiến dâng thân xác. Chắc anh chị em đã từng nhận thấy
là thư thứ nhất gửi các tín hữu Côrintô xoay chung
quanh hai chủ đề tính dục và Thánh Thể chưa ? Và sở
dĩ như thế là vì thánh Phaolô biết là chúng ta phải
hiểu điều này nhờ vào điều kia. Chúng ta hiểu Thánh
Thể dưới ánh sáng của tính dục và hiểu tính dục
dưới ánh sáng của Thánh Thể.
Hiến
dâng thân thể của mình
Xã
hội chúng ta khó lòng hiểu được sự dâng hiến này,
bởi vì chúng ta có khuynh hướng coi thân thể chúng ta như
một đối tượng thuộc quyền sở hữu của chúng ta. Một
hôm, tôi đã tận mắt nhìn thấy một cuốn sách bàn về
thân thể con người có nhan đề : Con
người : đủ mọi kiểu dáng, đủ mọi hình thức, đủ
mọi chiều kích, đủ mọi mầu sắc. Bản chỉ dẫn cho
người sử dụng
(Éditions Haynes). Đây là cuốn cẩm nang thuộc loại cẩm
nang người ta đưa cho các bạn khi các bạn mua một chiếc
ô tô hay một cái máy giặt. Nếu các bạn suy nghĩ về
thân thể của mình theo quan điểm ấy, nghĩa là như thể
một đối tượng quan trọng trong số những đối tượng
khác, thì khi đó những hành vi tính dục chẳng có ý
nghĩa gì đặc biệt cả. Tôi có thể làm bất cứ những
gì tôi muốn đối với những thứ tôi đang sở hữu,
miễn là không phương hại tới ai. Tôi có thể sử dụng
cái máy giặt của tôi để pha trộn những gam mầu cho
nghệ thuật hội hoạ hay để nướng bánh ga-tô cũng được
: vì cái máy giặt này là của tôi cơ mà ! Mà nếu vậy
cớ sao tôi lại không thể làm những gì tôi muốn đối
với thân thể của tôi cơ chứ ? Như thế là chúng ta
đang suy nghĩ một cách tự nhiên, vì kể từ thế kỷ
XVII, người ta đã đi tới chỗ tuyệt đối hoá quyền sở
hữu. Là người chính là sở hữu.
Nhưng
Bữa Tiệc Ly lại đưa chúng ta trở về với một truyền
thống khác, vừa cổ kính hơn vừa giàu ý nghĩa hơn. Thân
thể không chỉ là một tài sản quí giá mà tôi đang sở
hữu. Thân thể chính là bản thân tôi. Đó là hữu thể
của tôi, được đón nhận từ thân mẫu tôi và từ các
bậc tiền bối của thân mẫu tôi và, đi cho đến cùng,
là từ Thiên Chúa. Đến nỗi khi Đức Giêsu nói : “Đây
là mình Thầy, và Thầy hiến tặng cho anh em”, thì không
phải là Người đã vứt đi một tài sản quí giá đâu :
Người truyền lại một ân huệ quà tặng là chính thân
thể của Người. Hữu thể của Người là một hồng ân
Chúa Cha ban tặng và đấy chính là cái mà Người truyền
lại cho chúng ta.
Những
tương giao tính dục phải nhắm đến mục đích là thực
hiện việc trao hiến chính mình. Đây, tôi đây, và tôi
xin dâng hiến cho chính anh chị em, tất cả những gì tôi
là, bây giờ và mãi mãi. Và như thế, Thánh Thể giúp
chúng ta hiểu đối với chúng ta những cá nhân với giới
tính là gì, và tính dục của chúng ta cũng giúp chúng ta
hiểu được Thánh Thể. Người ta thường coi đạo đức
tính dục Kitô giáo như một rào cản đối kháng với
những phong tục đương thời. Hội Thánh bảo cho chúng ta
biết những gì chúng ta không được phép làm ! Thật ra,
nền tảng của đạo đức tính dục Kitô giáo chính là
học để biết cho đi và đón nhận những quà tặng.
Khi
tôi gặp phải tiếng sét ái tình
Bữa
Tiệc Ly là một khoảnh khắc của cơn khủng hoảng bất
khả tránh né trong tình yêu của Đức Giêsu với các môn
đệ của Người. Trên bước đường đời từ khi sinh ra
cho đến ngày phục sinh, thì đây là khoảnh khắc Người
cần vượt qua. Đây là khoảnh khắc trong đó tất cả
đều bùng vỡ. Người đã bị một trong các bạn hữu
của mình bán đứng. Đá tảng Phêrô săp sửa chối bỏ
Người. Và hầu hết các môn đệ sẽ bỏ trốn. Như
thường lệ, những người phụ nữ vẫn chính là những
người luôn lặng lẽ ở lại với Người cho đến cùng
! Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đã không trốn tránh cuộc
khủng hoảng này. Người đã dang rộng vòng tay đón nhận.
Người đã ôm lấy sự phản bội và cả sự chối bỏ
tình yêu nữa, và Người đã biến đổi tất cả thành
một khoảnh khắc dâng hiến. “Thầy dâng hiến chính
mình Thầy cho anh em. Anh em sẽ trao nộp Thầy vào tay những
người Rôma để họ giết Thầy. Anh em sẽ bỏ mặc cho
Thầy chết. Nhưng Thầy sẽ biến đổi tất cả thành
khoảnh khắc dâng hiến, bây giờ và mãi mãi”.
Lớn
lên cho tới chỗ trưởng thành và yêu thương có nghĩa là
chúng ta buộc sẽ phải trải qua những cuộc khủng hoảng
tương tự như thế, trong đó chúng ta sẽ có cảm tưởng
là thế giới này đang sụp đổ hoàn toàn. Điều ấy
diễn ra theo kiểu bi kịch đối với những ai bước vào
tuổi mới lớn, và điều ấy có thể sẽ diễn ra trong
suốt cuộc đời, ngay cả khi người ta đã lập gia đình
hoặc người ta đã là tu sĩ hay linh mục nữa. Thường
thường một cuộc khủng hoảng kiểu như thế này sẽ
bùng phát vào khoảng năm hay sáu năm sau khi cam kết sống
đời hôn nhân hay trong hàng tư tế. Chúng ta buộc lòng
phải đối diện thôi.
Đức
Giêsu đã có thể lẻn ra cửa và trốn đi. Người đã có
thể bỏ các môn đệ vì chẳng còn gì để dính dáng đến
các ông này nữa. Nhưng không. Người đã đón nhận
khoảnh khắc này trong lòng tin. Và chúng ta sẽ chỉ có
khả năng giúp đỡ các bạn trẻ thực hiện được điều
này nếu chính bản thân chúng ta đã kinh nghiệm những
khoảnh khắc như thế và dám can đảm đối diện với
những khoảnh khắc ấy. Bản thân tôi đã từng trải qua
chuyện này rồi ! Tôi vẫn còn nhớ vài năm sau khi được
thụ phong linh mục, tôi đã gặp phải tiếng sét ái tình.
Vì lần đầu tiên tôi gặp được con người mà đáng
nhẽ tôi sẽ cưới lấy làm vợ với niềm hạnh phúc
ngút ngàn. Và người ấy đáng nhẽ cũng đã cưới tôi
trong niềm hạnh phúc ngút ngàn như thế. Đó là khoảnh
khắc của lựa chọn. Tôi đã tuyên khấn trọng thể với
cả niềm vui. Tôi vẫn yêu thương các anh chị em Đa Minh
của tôi. Tôi vẫn yêu mến sứ vụ của Dòng. Tuy nhiên,
trong khi khấn, tôi lại có một thắc mắc hơi phù phiếm
trong đầu : “Nét gì trong chuyện này làm cho tôi ra vẻ
một chú rể ?”.
Vào
khoảnh khắc lựa chọn đó, tôi phải chấp nhận sự lựa
chọn đã được quyết định khi tôi tuyên khấn trọng
thể. Hay chính xác hơn, tôi phải chấp nhận sự lựa
chọn mà Thiên Chúa đã thực hiện cho tôi, đây chính là
cuộc sống mà Người đã mời đã gọi tôi sống. Đó là
những khoảnh khắc đau thương lắm, nhưng cũng là những
khoảnh khắc của hạnh phúc ngập tràn. Tôi hạnh phúc
bởi vì tôi đã yêu thương con người này, và từ đó
chúng tôi vẫn luôn là những người bạn rất thân. Đó
còn là khoảnh khắc hạnh phúc bởi vì tôi đã được
giải phóng khỏi những ảo ảnh tôi từng có trong đầu
vào giây phút tuyên khấn trọng thể. Tôi đã lại từ từ
đáp xuống mặt đất. Tâm trí tôi phải nhập thể vào
trong chính ngôi vị của tôi đúng như tôi đang là, trong
cuộc sống mà Thiên Chúa đã chọn lựa cho tôi, trong tấm
thân này và trong máu huyết này. Cuộc khủng hoảng đó
đã đặt đôi chân tôi đứng trở lại trên mặt đất.
Đa
số trong chúng ta, điều đó không phải chỉ diễn ra một
lần. Trong cuộc đời, chúng ta có thể trải qua rất
nhiều cuộc khủng hoảng tình cảm. Tôi đã từng kinh
nghiệm điều ấy, và ai biết trước được chuyện gì
sẽ còn xảy ra nữa đây ? Nhưng chúng ta phải đương đầu
với những cuộc khủng hoảng đó, như Đức Giêsu đã
từng đương đầu trong Bữa Tiệc Ly, với lòng can đảm
và tín thác. Khi đó, chúng ta sẽ an nhiên đi vào vào
trong thế giới thực tại của thân thể và máu huyết
chúng ta.
Một
tu sĩ Dòng Biển Đức, người Ailen, tên là Mark Patrick
Hederman đã viết : “Tình
yêu là sức mạnh duy nhất hội đủ sự mãnh liệt buộc
chúng ta phải rời bỏ nơi trú ẩn đầy tiện nghi thoải
mái của thái độ cá nhân chủ nghĩa vốn đã được
chúng ta bảo vệ kỹ lưỡng, đồng thời bước ra khỏi
cái vỏ sò bất khả xuyên thấu của thái độ tự mãn
của chúng ta, buộc chúng ta phải hội nhập bản thân
mình vào khuôn mặt đã được khám phá trong vùng nguy
hiểm, trong lò thử thách này chính là nơi con người cá
nhân chủ nghĩa sẽ được thanh luyện và trở thành một
ngôi vị”. Và
nếu anh chị em không đồng ý với vị tu sĩ Dòng Biển
Đức người Ailen trên, thì xin anh chị em tin thánh Tôma
Aquinô vậy : “Ai
yêu thương thì nhất thiết phải vượt qua cõi biên thuỳ
đang giam hãm mình trong những giới hạn riêng tư của
chính mình. Chính vì lẽ ấy người ta nói về tình yêu
rằng tình yêu khiến cho trái tim tan chảy : cái gì tan
chảy thì không còn bị hạn chế trong những giới hạn
riêng của bản thân mình nữa, điều này hoàn toàn trái
ngược với những gì gọi là sự chai đá của trái tim”.
Chỉ có tình yêu mới có khả năng làm nổ tung trái tim
bằng đá của chúng ta và tặng cho chúng ta một trái tim
bằng thịt.
Cơn
cám dỗ về thứ lòng nhân ái kiểu viễn vọng
Mở
lòng ra đón nhận tình yêu là việc nguy hiểm vô cùng. Có
thể vì đó mà ta sẽ bị thương tổn. Bữa Tiệc Ly là
câu chuyện kể về sự bất trắc tất phải có chỉ vì
yêu. Đức
Giêsu đã phải chết : bởi vì Người đã yêu. Và đây
là điều đặc biệt nguy hiểm đối với một linh mục
hay một tu sĩ. Trong khi yêu, người ta đánh thức những
đam mê và ước muốn cực kỳ sâu xa và xao xuyến ; có
thể người ta rơi vào nguy cơ đánh mất ơn gọi của
mình hay dẫn đến một đời sống lứa dôi. Ân sủng sẽ
là điều luôn luôn cần thiết nếu người ta muốn vượt
qua những nguy cơ này. Nhưng nếu không mở lòng ra đón
nhận tình yêu thì lại còn nguy hiểm hơn gấp bội ; đây
là mối nguy hiểm chết người. Xin mời anh chị em nghe C.
S. Lewis phát biểu : “Yêu
là thực tại duy nhất làm cho trở nên dễ bị thương
tổn. Hãy yêu bất cứ điều gì, và trái tim các bạn sẽ
bị xé nát vì điều ấy, và có thể còn bị tan vỡ nữa
là đàng khác. Nếu các bạn cứ muốn giữ cho trái tim
chắc chắn khỏi bị sứt mẻ, thì xin các bạn đừng có
dâng hiến trái tim các bạn cho bất cứ người nào, thậm
chí là cho một con vật. Các bạn hãy bao bọc trái tim
thật kỹ lưỡng bằng những chuyện tầm phào và những
đồ trang sức rẻ tiền ; hãy tránh né mọi thứ dấn
thân ; hãy cất giữ trái tim của các bạn cho thật an
toàn, trong một cái rương hay trong một chiếc quan tài do
lòng vị kỷ của các bạn chế tạo ra cũng được.
Nhưng, trong cái rương chắc chắn, tối tăm, bất động
và kín như bưng này, trái tim sẽ biến dạng. Nó sẽ
không bị tan vỡ, nó sẽ trở nên như sắt. Như đá. Bất
khả xâm nhập. Bất khả đụng chạm. Tuỳ sự lựa chọn
của các bạn, khả năng duy nhất còn lại, khác tấn bi
kịch vừa kể trên, hay ít ra là có nguy cơ trở thành bi
kịch như thế, chính là lời kết án. Bên ngoài thiên
đàng, nơi duy nhất các bạn được bảo vệ khỏi bất
kỳ sự hiểm nghèo nào và bất kỳ nỗi thăng trầm nào
của tình yêu, đó là hoả ngục”.
Khi
cử hành Thánh Thể, chúng ta nên nhớ rằng máu Đức Kitô
đã đổ ra “vì anh em và vì hết mọi người”. Trong ý
nghĩa sâu xa nhất, mầu nhiệm tình yêu đồng thời vừa
mang tính cá nhân vừa mang tính phổ quát. Nếu tình yêu
của chúng ta chỉ thực sự mang tính cá nhân, thì tình
yêu này có nguy cơ bị giới hạn vào thái độ hướng
nội và trở nên ngột ngạt. Nếu tình yêu này thực sự
là một tình yêu mơ hồ và vô định đối với toàn thể
nhân loại, thì nó có nguy cơ trở nên trống rỗng và hão
huyền. Cơn cám dỗ của một đôi vợ chồng có thể là
muốn có một tình yêu thật mãnh liệt, nhưng lại khép
kín và loại trừ ; thường thường, điều duy nhất khi
đó có khả năng cứu cho đôi vợ chồng này khỏi bị
tan vỡ, đó là sự xuất hiện của một người thứ ba
tức là đứa con, một con người sẽ mở cho tình yêu của
họ được rộng ra. Còn cơn cám dỗ của những người
sống độc thân có thể là một tình yêu thuần tuý phổ
quát, một tình yêu mặn nồng đối với cả và nhân
loại. Nhưng đó lại là một tình yêu mơ hồ. Trong Bleak
House
(Ngôi nhà lạnh lẽo), tiểu thuyết gia Charles Dickens kể
cho chúng ta biết lý do tại sao quí bà Jellyby lại là một
con người có một thứ “lòng nhân ái kiểu viễn vọng
kính, bởi vì bà đầm ấy đã không thể nhìn thấy bất
cứ cái gì gần hơn là lục địa châu Phi”. Bà đã yêu
mến cái châu Phi chung chung, nhưng thậm chí lại không
nhận ra ngay sự hiện hữu của những người con của
riêng bà !
Những
ai đi tu thì không được lẩn trốn trong một thứ nhân
ái kiểu viễn vọng như thế. Việc tiến đến gần mầu
nhiệm tình yêu cũng có ý nghĩa là chúng ta đang yêu
thương những con người, đôi khi bằng tình bạn, đôi
khi bằng tình cảm quyến luyến sâu xa. Chúng ta phải học
cho biết cách hội nhập các loại tình yêu này vào trong
căn tính tu trì của chúng ta. Dường như ngày xưa người
ta thường cảnh giác các tu sĩ là phải đề phòng “những
tình bạn đặc biệt”. Anh Gervase Matthew đáng kính của
chúng tôi thì luôn nói rằng chính “những mối hiềm
khích đặc biệt” mới là những điều đáng phải e
ngại hơn nhiều !
Bède
Jarrett là Giám Tỉnh Tỉnh Dòng Đa Minh Anh Quốc trong những
năm 30. Cha đã viết một bức thư tuyệt vời gửi cho một
đan sĩ trẻ Dòng Biển Đức tên là Hubert van Zeller, người
tu sĩ này sau chiến tranh đã trở nên nổi tiếng nhờ
những tác phẩm của anh viết về linh đạo. Chàng đan sĩ
trẻ tuổi này có lần gập phải tiếng sét ái tình với
một người mà chúng ta chỉ biết được chữ đầu tiên
của tên người ấy là P. Đúng là một thử thách khủng
khiếp ! Chàng đan sĩ ấy đã lo lắng, chỉ sợ mối
tình này sẽ đặt dấu chấm hết cho ơn gọi tu trì của
mình. Cha Bède thi lại thấy đây mới chỉ là bước khởi
đầu trong ơn gọi của anh. Về điểm này, tôi xin trích
dẫn hơi dài một tí để hầu anh chị em. Và ta sẽ phải
ngỡ ngàng không ít khi nhớ thêm rằng bức thư này được
viết ra lúc cha đã ở vào tuổi thất tuần.
“Tôi
thấy hạnh phúc [vì anh đã bị tiếng sét ái tình của
P.] bởi vì tôi nghĩ rằng cơn cám dỗ đã làm cho anh luôn
bị phơi bày ra đó, nó thuộc về chủ thuyết thanh giáo
(puritanisme), một sự hẹp hòi, một thứ phi nhân nào đó.
Khuynh hướng của anh cho thấy lúc nào anh cũng chỉ khước
từ tôn trọng vật chất. Anh có vẻ yêu Chúa [Giêsu],
nhưng chắc không thực sự mến yêu mến cuộc Nhập Thể.
Thực vậy, anh có vẻ sợ hãi. Có lẽ anh nghĩ (ở đây,
tôi qui cho anh một loại thiếu sót mà không cần bằng
chứng) rằng, nếu anh thôi chống trả, anh sẽ bị tiêu
tan. Nơi anh đầy dẫy những ức chế. Những ức chế này
suýt nữa đã giết chết anh, và suýt nữa thì làm tiêu
ma nhân tính của anh. Anh có vẻ sợ hãi cuộc đời bởi
vì anh mong muốn là một vị thánh, và bởi vì anh tưởng
anh là một nghệ sĩ. Người nghệ sĩ trong anh có thể
nhìn thấy vẻ đẹp ở khắp nơi ; vị thánh của ước
muốn lại bảo “nhưng điều đó chính là một điều
nguy hiểm khủng khiếp” ; còn người tập sinh trong anh
thì nói “Cứ nhắm tịt mắt lại là xong !” Và thế là
Claude [tên thánh của Hubert van Zeller] suýt nữa đã bị nổ
tan tành. Nếu P. đã không bước vào cuộc đời anh, thì
rất có thể anh đã bị nổ tung mất rồi. Tôi tin rằng
P. sẽ cứu cuộc đời anh. Tôi dâng một thánh lễ tạ ơn
vì những gì P. đã là, và đã làm, cho anh. Chắc là anh
còn cần có P. lâu dài đấy ! Những kẻ đồng tính
chẳng phải là giải pháp đâu. Cũng không phải là những
ông lão giám tỉnh bụng phệ này đâu nhá !”
Tôi
không có ý bảo rằng như vậy tất cả chúng ta phải vội
vã xông ngay ra cửa để tìm một ai đó mà yêu đâu nhá
! Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta những tình yêu và tình
bằng hữu góp phần tạo nên những nẻo đường để
chúng ta lữ hành tiến bước mà đến với Người, Đấng
là Tình Yêu sung mãn. Chúng ta sống trong sự mong chờ ai
đó mà Thiên Chúa gửi đến, khi nào, và như thế nào.
Nhưng khi những điều đó xảy đến, chúng ta phải can
đảm để ôm chầm lấy cái khoảnh khắc ấy, như Đức
Giêsu đã thực hiện trong Bữa Tiệc Ly.
Vậy,
sống thanh khiết nghĩa là gì ?
Khi
thực hiện điều này, chúng ta sẽ phải học để trở
thành những con người thanh khiết. Tất cả mọi người,
những người sống độc thân, những người đã xây dựng
gia đình, tu sĩ nam nữ, chúng ta hết thảy được mời
gọi sống thanh khiết. Từ ngữ thanh khiết không phổ
biến lắm trong thời đại chúng ta. Nó khiến người nghe
nghĩ đến một cái gì đó đoan trang thuỳ mị, nhưng lạnh
lùng xa vắng, và nửa sống nửa chết, tóm lại là chẳng
liên quan đến điều gì hết. Herbert McCabe, o.p. từng viết
rằng “sự thanh khiết nào mà không phải là biểu đạt
của tình yêu thì chỉ là cái xác chết của sự thanh
khiết chân thực”. Xác một con chó vẫn mang hình dáng
con chó. Thậm chí người ta có thể nhầm mà bảo rằng
đấy là con chó đang ngủ ! Nhưng đó không phải là một
con chó mà chỉ là một con-trước-đây-là-con-chó. Tương
tự như thế, một người sống độc thân nhưng không
biết yêu biết thương gì hết, thì có thể vẫn cứ
giống với một con người thanh khiết đấy, nhưng thực
thì đã chết mất rồi !
Như
vậy thì sống thanh khiết nghĩa là gì ? Trước hết sự
thanh khiết không hệ tại ở chỗ triệt tiêu những ham
muốn, ít ra là theo truyền thống của thánh Tôma Aquinô.
Ham muốn và những đam mê hàm chứa nhiều chân lý sâu xa
về những gì chúng ta đang là và những gì cần thiết
đối với chúng ta. Bóp chết những ham muốn và đam mê
sẽ chỉ giết chết chúng ta về đàng tinh thần mà thôi
hoặc, một ngày nào đó, sẽ khiến cho chúng ta bị lệch
lạc. Chúng ta phải giáo dục những ham muốn của bản
thân chúng ta, mở rộng đôi mắt nhìn vào những đối
tượng thực tế của chúng, giải phóng chúng khỏi những
khoái lạc bé nhỏ và ngắn hạn. Chúng ta phải ham muốn
càng ngày càng sâu xa hơn nữa và càng ngày càng trong sáng
hơn nữa.
Thánh
Tôma đã viết một điều mà chính người cũng rơi vào
tình trạng khó giải thích. Người nói thế này : sự
thanh khiết cốt ở chỗ sống theo trật tự của lý trí
(II-II, 151, 1). Xem ra như thế khá là lạnh lùng, và hơi
quá lý trí, như thể việc sống thanh khiết hoàn toàn nằm
trong khả năng của tinh thần vậy. Nhưng, qua từ ngữ
ratio,
thánh Tôma muốn nói đến việc sống trong một thế giới
thực tế, “theo chân lý của những sự vật có thực”.
Điều đó muốn nói rằng tôi phải sống trong thực tại
của những gì tôi đang là và thực tế của những gì
nơi những người tôi thương tôi mến đang thực sự là.
Đam mê và ham muốn có thể lôi cuốn chúng ta đến chỗ
sống trong sự tưởng tượng, trong khi sự thanh khiết thì
đưa chúng ta về lại với mặt đất này, và có khả
năng nhìn thấy được sự vật như chúng đang là. Đối
với một người tu hành, hay đôi khi đối với những
người sống độc thân, có thể nảy sinh cám dỗ muốn
ẩn mình trong cái ảo tưởng nguy hiểm rằng chúng ta là
những thiên thần thanh khiết, chẳng dính dáng gì đến
tính dục cả. Điều này có vẻ giống với sự thanh
khiết, nhưng đấy lại là sự băng hoại và lệch lạc.
Nói như thế khiến tôi nhớ lại câu chuyện của một
người anh em trong dòng của tôi, khi đến dâng thánh lễ
ở cộng đoàn các nữ tu, một chị nữ tu ra mở cửa
nhìn thấy anh và nói : “À, cha đấy hả, thế mà cứ
tưởng là ông nào !”
Người
ta khó có thể tưởng tưởng được một cuộc cử hành
tình yêu nào lại tầm thường hơn là Bữa Tiệc Ly. Trong
Bữa Tiệc Ly, chẳng có chút gì là lãng mạn cả : Đức
Giêsu đã không úp mở với các môn đệ của Người rằng
mọi sự sắp tới hồi kết thúc, rằng một số trong các
ông sẽ phản bội Người, rằng ông Phêrô sẽ chối
Người, rằng những người khác thì sẽ bỏ trốn. Đây
hoàn toàn không phải là một bữa ăn tối ấm cúng và dễ
thương với những cây bạch lạp lung linh sáng trong một
trattoria
(quán ăn bình dân ở Italia). Đây đúng là một thứ duy
thực tột cùng. Tình yêu tạ ơn đặt chúng ta trong tư
thế phải đối diện thẳng thắn và không ngần ngại
với những rắc rối của tình yêu, với những thất bại
ê chề, cũng như với chiến thắng tối hậu của tình
yêu.
Trong
những loại ảo ảnh nào ước muốn có thể làm cho chúng
ta mắc bẫy ? Tôi xin phân biệt hai loại ảo ảnh. Loại
ảo ảnh thứ nhất là cám dỗ tin rằng người khác là
tất cả, tất cả những gì chúng ta đang tìm đang kiếm,
tất cả những gì có khả năng đáp ứng cho những khát
vọng của chúng ta. Đấy là sự ám ảnh. Loại ảo ảnh
thứ hai là không có khả năng nhìn thấy được nhân tính
nơi người khác, giản lược người khác xuống hàng sự
phục vụ nhằm thoả mãn những xung động của chúng ta.
Đây là sự dâm dục. Hai loại ảo ảnh này thực ra cũng
không khác nhau lắm, vì ngay từ đầu chúng đã giống
nhau rồi. Ảo ảnh này là phản ánh của ảo ảnh kia.
Ước
muốn sự thân mật
Tôi
giả thiết là tất cả chúng ta đều đã trải qua những
khoảnh khắc ám ảnh này, khi mà một ai đó trở nên đối
tượng của toàn thể những khát vọng nơi bản thân
chúng ta, trở thành biểu tượng của tất cả những điều
chúng ta chưa từng ước muốn bao giờ, trở thành lời
đáp trả cho toàn thể những nhu cầu của chúng ta. Nếu
chúng ta không kết hiệp sâu xa với con người ấy, thì
cuộc đời chúng ta có nguy cơ trở thành trống rỗng và
mất đi toàn bộ ý nghĩa. Đối tượng tình yêu của
chúng ta sẽ lấp đầy cái giếng sâu thẳm của những
nhu cầu mà chúng ta khám phá thấy trong chính bản thân
chúng ta. Suốt cả ngày lúc nào chúng ta cũng cứ tâm
tưởng đến những nhu cầu ấy. Như đại văn hào
Shakespeare đã diễn đạt điều ấy thật là tuyệt vời
: “Và
thế là ban ngày thì chân tay anh, ban đêm thì tâm trí anh,
cho em, và cho anh, hầu như chẳng tìm được chút nghỉ
ngơi thư thái nào”.
Hoặc,
để gọi là hiện đại hơn một chút, thì khuôn mặt
người được yêu phải giống như chương trình bảo vệ
màn hình máy vi tính của chúng ta. Vào khoảnh khắc khi mà
ta ngừng suy nghĩ về một điều nào khác, thì cái chương
trình đó lại xuất hiện. Điều đó cứ như thể là một
sự tù đày, một tình trạng nô lệ, nhưng lại là một
thứ nô lệ mà chúng ta chẳng mong muốn thoát ra chút nào.
Chúng ta thần hoá người được chúng ta yêu, và đặt
người đó vào vị trí của Thiên Chúa. Hiển nhiên, những
điều chúng ta tôn thờ đó chính là công trình sáng tạo
của chúng ta cho chúng ta. Đó là một sự phóng chiếu. Có
lẽ tất cả mọi tình yêu đều phải trải qua giai đoạn
ám ảnh kỳ lạ này. Phương thuốc chữa trị duy nhất là
sống cùng với con người ấy ngày này qua ngày khác, và
khám phá ra rằng con người ấy không phải là Thiên Chúa
nhưng chỉ là con đẻ của mình. Tình yêu bắt đầu ngay
khi chúng ta được chữa lành khỏi ảo vọng này và lúc
đó chúng ta đối diện với một ngôi vị thực sự, chứ
không phải một phóng chiếu từ những khát vọng của
chúng ta. Như Octavio Paz đã nói : “Tình
yêu mạc khải thực tại cho khát vọng”.
Vậy
thì chúng ta tìm kiếm cái gì trong tất cả những điều
này ? Cái gì là nguyên cớ gây nên sự ám ảnh này ? Tôi
chỉ có thể phát biểu với tính cách cá nhân mà thôi,
nhưng khi đó tôi sẽ nói rằng cái luôn luôn dứng đằng
sau những xáo trộn cảm xúc nhất thời của tôi là một
ước muốn sự thân mật. Đó là khát vọng được hoàn
toàn trở nên một, khát vọng làm biến mất những biên
thuỳ chia cách giữa tôi và một người khác, được đánh
mất chính mình trong một người khác, để khai mở một
sự hiệp thông tinh ròng và hoàn toàn. Đúng hơn là một
sự đam mê tính dục, tôi thiết nghĩ rằng chính cái ước
vọng sự thân mật này mới là điều mà đa phần con
người đang tìm kiếm. Nếu chúng ta phải trải qua những
cuộc khủng hoảng tình cảm, thì chúng ta cũng cần phải
nhìn nhận nhu cầu thân mật này của chúng ta.
Xã
hội chúng ta được xây dựng chung quanh huyền thoại kết
hợp tính dục như thể sự đăng quang của toàn bộ ước
muốn sự thân mật. Chính khoảnh khắc âu yếm và kết
hợp thân xác trọn vẹn này đã tạo nên sự thân mật
toàn diện và là sự hiệp thông tuyệt đối. Rất nhiều
người lãng quên sự thân mật này bởi vì họ không lập
gia đình hoặc đời sống hôn nhân của họ không hạnh
phúc, hoặc bởi vì họ là những linh mục hay tu sĩ. Và
chúng ta có thể cảm thấy mình bị tước đoạt một
cách bất công những gì là nhu cầu thâm sâu nhất của
chúng ta. Điều này xem ra có vẻ võ đoán ! Tại sao Thiên
Chúa lại có thể tước đi khỏi bản thân tôi khả năng
thoả mãn khát vọng thâm sâu này ?
Tôi
thiết nghĩ rằng tất cả mọi người, dù đã lập gia
đình hay sống độc thân, tu sĩ hay giáo dân, phải học
để tập thích ứng với những giới hạn của sự thân
mật mà mọi người buộc phải đối diện. Giấc mơ về
một cuộc hiệp thông toàn diện là huyền thoại vốn đã
xui khiến một số tu sĩ luôn khát khao lập gia đình, và
một số người đã lập gia đình lại mong muốn xây dựng
gia đình với một người khác nữa. Hẳn nhiên sự thân
mật chỉ hạnh phúc nếu chúng ta chấp nhận những giới
hạn của nó. Chúng ta có thể phóng chiếu trên những cặp
vợ chồng một sự thân mật tuyệt đẹp và toàn diện,
nhưng trong thực tế đây lại là điều bất khả và chỉ
là sự phóng chiếu những giấc mơ của chúng ta mà thôi.
Rilke đã hiểu rằng không thể có một sự thân mật đích
thực nơi đôi vợ chồng, nếu mỗi người không nhìn
nhận rằng người khác, theo một cách nào đó, vẫn luôn
luôn là đơn độc. Tất cả mọi người đều giữ kín
một phần cô đơn nào đó chung quanh mình vốn không thể
bị tiêu diệt. “Một
cuộc hôn nhân hạnh phúc là một cuộc hôn nhân trong đó
người này làm cho người kia trở thành kẻ canh gác nỗi
cô đơn của mình, và dành cho người kia sự tin tưởng
(…) Một khi người ta đã thấu hiểu và chấp nhận
rằng, ngay cả giữa những người gần gũi nhất, vẫn
luôn tồn tại những khoảng cách vô biên, thì khi đó
người ta có thể sát cánh cùng nhau để khai triển một
cuộc sống huyền diệu, và nếu họ biết yêu mến khoảng
cách giữa họ với nhau vốn đã cống hiến cho mỗi người
khả năng để nhìn thấy người khác toàn diện hơn dựa
trên một hậu trường rộng lớn và tuyệt vời”.
Tiến
đến gần trung tâm cuộc đời người khác
Không
ai có thể đem đến cho chúng ta sự thoả mãn toàn diện
đối với những điều chúng ta đang khao khát. Điều này
chỉ có thể tìm thấy nơi Thiên Chúa mà thôi. Rowan
Williams, một người chồng và là Tổng giám mục
Cantobéry, đã viết : “Một
con người trở nên trưởng thành và trung tín khi mà người
ấy ý thức được về căn bệnh vô phương chữa trị
của những khát vọng trong bản thân mình : thế giới này
là như thế đó, chẳng có cái gì ban tặng cho người nào
đấy một căn tính mà lại không có thiếu sót và cần
phải hoàn thành”.
Hoặc theo Jean Vanier : “Nỗi
cô đơn nằm sâu trong hữu thể con người bởi vì chẳng
có điều gì trong cuộc đời này có khả năng thoả mãn
hoàn toàn những nhu cầu của trái tim con người”.
Đối
với những người đã lập gia đình, thì sự thân mật
diệu huyền là điều khả dĩ nếu một khi người ta biết
chấp nhận là kẻ canh gác nỗi cô đơn của người khác,
như Rilke đã nói ; và đối với chúng ta là những người
không lập gia đình hoặc cam kết khấn sống đời độc
thân, cũng có thể khai mở được một sự thân mật thâm
sâu và diệu huyền với những người khác. Từ ngữ
intimité
(sự thân mật) phái sinh từ hạn từ intimare trong tiếng
Latinh, có nghĩa là “sống liên hệ mật thiết với những
gì là thâm sâu nhất nơi một người khác”. Bởi vì tôi
là một nhà tu hành, lời khấn thanh khiết đã cống hiến
cho tôi khả năng để trở nên thân mật một cách khó
tin với những người khác. Bởi vì tôi chẳng có sổ
nhật ký bí mật và tinh yêu của tôi không phải là để
tàn phá, mà cũng chẳng phải để chiếm hữu, cho nên tôi
có thể tiến đến rất gần trung tâm cuộc sống của
một số người.
Cái
bẫy được đặt đối lập với sự ám ảnh không hệ
tại ở chỗ đặt người khác thay vào vị trí của Thiên
Chúa, nhưng là biến người khác trở thành một đối
tượng thuần tuý, một điều gì đó có khả năng thoả
mãn những nhu cầu tính dục. Dục vọng bịt mắt chúng
ta không cho chúng ta nhìn thấy người khác với tư cách
là một ngôi vị, nhìn thấy sự mỏng giòn cũng như những
phẩm tính của họ. Thánh Tôma, khi viết về đức thanh
khiết, đã nói rằng khi con sư tử nhìn thấy con nai cái
là nó nhìn thấy một bữa ăn, và rằng dục vọng đã
biến chúng ta trở thành những kẻ săn bắt, những động
vật săn mồi nhìn thấy những gì chúng có thể ngấu
nghiến. Còn ở đây, sự thanh khiết cốt ở chỗ sống
trong thế giới thực hữu. Sự thanh khiết mở mắt chúng
ta và giúp chúng ta nhận ra rằng cái đang ở trước mặt
chúng ta hiện hữu, vâng, đúng như vậy, một thân thể
mĩ miều, nhưng thân thể này lại là một con người.
Thân thể này không phải là một đối tượng nhưng là
một chủ thể. Tôi xin một lần nữa trích lời Hederman :
“Lời khấn
thanh khiết ngăn cản những bước chân của kẻ săn mồi
không cho phép thực hiện điều mà chúng ta muốn tiến
hành theo lẽ tự nhiên : đặt bẫy săn những người
khác, và như thế là đang tiến tới chỗ thành một động
vật săn mồi”.
Điều vô cùng khủng khiếp trong những câu chuyện về
lạm dụng tình dụng thường là đã có một sự chuẩn
bị được tính toán khéo léo.
Người
ta có thể tin rằng dục vọng là một đam mê tình dục
không thể làm chủ được, một nỗi khao khát tính dục
phóng túng. Nhưng thánh Augustinô, người đã kinh nghiệm
sâu xa trong vấn đề này, lại cho rằng dục vọng là nỗi
khát khao muốn được thống trị tha nhân hơn là khát
khao khoái lạc tình dục. Dục vọng liên quan đến libido
thống trị (libido
dominandi), nỗi
khát khao muốn được thống trị đã biến chúng ta trở
thành thiên Chúa. Dục vọng liên quan đến quyền lực
nhiều hơn là liên quan đến tính dục. Như Sébastien Moore
đã viết điều này : “Dục
vọng không phải là một đam mê tính dục thoát ra khỏi
sự kiểm soát của ý chí, nhưng là một đam mê tính dục
nhằm chiếm một chỗ đứng trong ý chí của Thiên Chúa
(…) Trách nhiệm của chúng ta không phải là bắt đam mê
tính dục phải tuân phục ý chí, nhưng là phục hồi
nguyên vẹn cho đam mê tính dục bản tính khao khát đích
thực của nó, là tìm thấy cội nguồn và cứu cánh trong
Thiên Chúa, và sự giải thoát được thực hiện nhờ ân
sủng của Thiên Chúa được thực hiện trong đời sống,
lời giáo huấn, cái chết trên thập giá và sự phục
sinh của Đức Kitô”.
Mối
nguy hiểm của việc biến bản thân mình thành một vị
thiên chúa
Để
vượt qua dục vọng này, thì bước đầu tiên không phải
là triệt tiêu hết mọi khao khát, nhưng là phục hồi,
giải phóng, và tái khám phá rằng những điều mà khao
khát này nhắm đến không phải là một đối tượng
nhưng là một con người. Có quá nhiều vụ tai tiếng đáng
buồn về tội lạm dụng tình dục đối với trẻ vị
thành niên do các linh mục hay tu sĩ không có đủ khả
năng để đảm nhận những mối tương quan trưởng thành
với những đối tác bình đẳng với mình ! Họ chỉ có
thể tìm kiếm những mối tương quan ở nơi đâu họ có
quyền lực và thế giá. Họ phải làm như thế, vì họ
không muốn bản thân họ có thể bị tổn thương. Trong
Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu cầm lấy bánh, bẻ ra, trao cho
các môn đệ và nói : “Đây là mình Thầy, hiến tế vì
anh em”. Người đã tự hiến chính mình. Thay vì bắt các
môn đệ phải phục tùng mình, Đức Giêsu đã tự hiến
tế vì họ để thực hiện những điều họ mong muốn.
Và chúng ta biết rõ đâu là những điều họ sắp thực
hiện. Đây là sự tổn thương ghê gớm của một tình
yêu đến cùng.
Dục
vọng và ám ảnh có thể xem ra khá khác nhau, và tất
nhiên cái này là phản ánh chính xác của cái kia. Trong ám
ảnh, người ta biến người khác trở thành một vị
thiên chúa, còn trong dục vọng người ta biến chính mình
trở thành thiên chúa. Trong trường hợp này, người ta tỏ
ra mình hoàn toàn bất lực, còn trong trường hợp kia,
người ta khao khát quyền lực tuyệt đối. Rowan Williams
viết rằng : “Tình
yêu là sự do dự giữa thái độ vị kỷ và tinh thần
quên mình”.
Tình yêu mang đến cho chúng ta một cảm thức mãnh liệt
về chính bản thân chúng ta, nhưng đồng thời tình yêu
cũng khiến cho chúng ta không còn ý thức nữa. Dục vọng
có thể xuất hiện khi mà thái độ vị kỷ thắng thế,
và ám ảnh xuất hiện khi tinh thần quyên mình mất đi
toàn bộ ý nghĩa căn tính của mình.
Như
thế, sống thanh khiết cốt ở chỗ sống trong thế giới
thực hữu, nghĩa là nhìn người khác (nam hay nữ) như họ
đang là, và chính bản thân mình như mình đang là. Họ
chẳng phải là những vị thần vị thánh, mà cũng chẳng
phải thuần tuý chỉ là một khối xương thịt. Chúng ta,
cả hai đều là con cái Thiên Chúa. Chúng ta có một lịch
sử. Chúng ta đã thực hiện những lời khấn, những lời
hứa. Người khác cũng đã thực hiện những lời cam kết,
có thể với tư cách là một đối tác hay một người
phối ngẫu. Chúng ta, những linh mục hay tu sĩ, chúng ta đã
dâng hiến bản thân mình cho Hội Dòng của chúng ta và
cho giáo phận của chúng ta. Chính trong tư cách là những
người đã đảm nhận và được liên kết qua những cam
kết khác nhau, nên chúng ta có thể phải học để biết
yêu thương với một trái tim rộng mở và một đôi mắt
luôn biết nhìn ra rộng hơn, rộng hơn mãi.
Thực
hiện được điều ấy là rất khó, bởi vì chúng ta đang
sống trong thế giới của internet. Đây là một thế giới
của thực tại ảo, trong đó người ta có thể sống
trong những thế giới tưởng tượng mà cứ như thể
chúng đang thực hữu vậy. Chúng ta đang sống trong một
nền văn hoá rất khó phân biệt giữa cái tưởng tượng
với cái có thực. Tất cả đều là khả dĩ trong cái thế
giới ảo này. Chính vì vậy, sự thanh khiết trở nên khó
khăn : sự thanh khiết là một nỗ lực không ngừng để
nhìn thấy thực tại.
Như
vậy, làm thế nào chúng ta có thể đáp cánh hạ xuống
lại trên mặt đất này. Tôi xin nhấn mạnh đến ba giai
đoạn. Chúng ta cần phải học để biết mở rộng đôi
mắt và để nhìn thấy khuôn mặt của những người anh
chị em đang hiện hữ trước mắt chúng ta. Liệu đã có
bao nhiêu lần chúng ta chú ý đến khuôn mặt của những
người khác đúng như họ đang là ? Brien Pierce, một anh
em Đa Minh, người Mỹ, đang viết một cuốn sách so sánh
tư tưởng của Tôn sư Eckhart, một nhà thần bí Đa Minh
thế kỷ XVI, với tư tưởng của Thích Nhất Hạnh, một
Hoà thượng Phật giáo thế kỷ XX. Đối với cả hai vị,
điểm khởi đầu của đời sống chiêm niệm chính là
khoảnh khắc hiện tại, đây là điều các Phật tử gọi
là “ý thức”. Chỉ có giây phút hiện tại mới là
thực hữu. Chính trong giây phút này đây mà tôi đang
sống, và do đó chính trong giây phút này đây mà tôi có
thể gặp gỡ Thiên Chúa. Tôi cần phải đạt được sự
thanh thản để thôi không còn lo âu về quá khứ và tương
lai nữa. Hiện tại là khoảnh khắc mà trong đó cái vĩnh
cửu bắt đầu lên ngôi. Eckhart hỏi : “Ngày hôm nay, nó
là cái gì thế ?” Và ông trả lời : “Là vĩnh cửu”.
Nghệ
thuật sống một mình
Trong
Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu thấu hiểu và ôm choàng lấy
khoảnh khắc hiện tại. Thay vì lo lắng về những việc
Giuđa đã làm hay việc quân lính sắp tới gần, Đức
Giêsu đã sống khoảnh khắc hiện tại. Người cầm lấy
bánh, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói : “Đây là mình
Thầy hiến tế vì anh em”. Mỗi lần cử hành Thánh Thể
là mỗi lần dìm chúng ta vào trong cái hiện tại vĩnh cửu
này. Chính trong khoảnh khắc này, tôi có thể hiện diện
với một người khác, thanh thản và lặng lẽ trong sự
hiện diện của người ấy. Tôi bận rộn quá, cứ tất
cả ngược xuôi, cứ mải suy nghĩ đến những gì sẽ
diễn ra sau đó, đến nỗi tôi chẳng còn khả năng để
nhìn thấy khuôn mặt đang đối diện với tôi, không còn
nhìn thấy vẻ đẹp cũng như những thương tích, nhìn
thấy niềm vui và những khổ đau của khuôn mặt ấy nữa.
Như thế, sự thanh khiết sẽ giúp cho đôi mắt của tôi
được mở rộng !
Kế
đến, tôi có thể học nghệ thuật sống một mình. Tôi
không thể sống hạnh phúc với những người khác trừ
phi tôi có khả năng để sống một mình. Nỗi cô đơn
khiến cho tôi khiếp sợ, vì vậy khi tôi ôm ấp những
người khác vào lòng thì không phải vởi vì tôi vui thú
cùng với họ, nhưng như thể một giải pháp cho vấn đề
của tôi. Tôi coi những người khác như một phương tiện
để lấp đầy sự trống rỗng và nỗi cô đơn khủng
khiếp của tôi. Như thế, tôi không thể hoan lạc cùng
với họ vì thiện hảo riêng của họ. Và như vậy, khi
ta hiện diện với một người khác, thì đây phải là
một cuộc hiện diện thực sự, và khi ta sống một mình,
thì vấn đề quan trọng là phải học để biết yêu mến
sự cô đơn. Nếu khác đi, thi khi ta hiện diện với một
người khác, ta sẽ bám chặt lấy người ấy cho đến
khi làm cho người ấy chết ngạt !
Cuối
cùng, tất cả mọi xã hội đều sống với câu chuyện
của mình. Xã hội chúng ta có những câu chuyện truyền
thống riêng của nó. Đó thường là những câu chuyện
lãng mạn : một chàng gặp một một nàng (hay đôi khi một
chàng gặp một chàng !). Hai người phải lòng nhau và sống
hạnh phúc bên nhau. Đó là một câu chuyện đẹp, thường
xảy ra. Nhưng nếu chúng ta nghĩ rằng trong cuộc tình đó,
chỉ có một phiên bản khả thể duy nhất như thế mà
thôi, thì chúng ta đang sống với những khả thể rất
giới hạn. Trí tưởng tượng của chúng ta cần phải
được nuôi dưỡng bằng những phiên bản khác nữa, vì
những câu chuyện này có khả năng nói cho chúng ta biết
các cách thể để sống và yêu thương. Khi đứng trước
những người trẻ, chúng ta cần phải biểu lộ những
cách thế vô cùng đa dạng để có thể gặp gỡ tình yêu
của họ và đem lại cho tình yêu ấy một ý nghĩa. Chính
vì lẽ ấy, cuộc đời các vị thánh là quan trọng vô
cùng. Cuộc đời của các vị cho chúng ta thấy có biết
bao nhiêu là cách sống anh hùng, dù là người lập gia
đình hay là người sống độc thân, dù là tu sĩ hay giáo
dân. Một bản tự truyện đã đánh động tôi rất nhiều,
đó là bản tự truyện của Nelson Mandela, The
Long Road to Freedom.
Đây là một con người đã dành trọn cuộc đời mình vì
công lý và làm cho chủ nghĩa Apartheid sụp đổ, và điều
này càng có ý nghĩa khi ông không được sống cuộc đời
hôn nhân mà ông đã rất khao khát, và vẫn còn khao khát
trong suốt những năm tháng bị cầm tù. Như thế, bước
đi đầu tiên tiến đến sự thanh khiết, đó là đặt
chân xuống bước đi trên mặt đất này. Tôi sẽ nói đến
hai bước khác ngay đây.
Chia
sẻ tình yêu của chúng ta
Giai
đoạn thứ hai, rất sơ lược, cốt ở chỗ mở tình yêu
của chúng ta cho rộng ra, đến nỗi tình yêu không còn ở
lì trong cái thế giới bé nhỏ riêng tư mà tình yêu tìm
được chỗ ẩn náu ở đó. Tình yêu của Đức Giêsu đã
được mở ra khi Người cầm lấy bánh, bẻ ra ngõ hầu
chính bản thân Người có thể được chia sẻ. Khi chúng
ta khám phá ra tình yêu, chúng ta không nên giữ kín tình
yêu ấy trong cái tủ bé nhỏ riêng tư trong hốc tường
để khoái lạc một mình, cứ tựa như một chai Whisky
được cất giấu vụng trộm để uống mảnh. Cần phải
mờ rộng tình yêu này với những người khác, chia sẻ
với họ và làm cho họ được lợi từ tình yêu ấy.
Chúng ta phải chia sẻ tình yêu của chúng ta với các bằng
hữu của chúng ta, và các bằng hữu của chúng ta với
những người mà chúng ta thương mến. Như vậy, một tình
yêu riêng tư sẽ trở thành một tình yêu rộng lớn hơn.
Một tình yêu phổ quát.
Vượt
trên tất cả, trong mọi thứ tình yêu, chúng ta đều có
thể mở ra một không gian cho Thiên Chúa để Người cư
ngụ tại đó. Chính mầu nhiệm tình yêu là Thiên Chúa có
thể sống trong mọi tình yêu riêng tư. Khi chúng ta yêu
thương sâu xa một ai đó, thì Thiên Chúa đã hiện diện
nếu, ít ra, chúng ta biết nhìn ra Người trong tình yêu
này. Đúng hơn, hãy coi những tình yêu của chúng ta như
thể đang tranh đua với Thiên Chúa, chúng ta cần ý thức
rằng tình yêu của chúng ta phải dành cho Thiên Chúa một
khoảng không để Người có thể cắm lều cư ngụ tại
đây. Như Bède Jarrett đã nói điều này với Hubert van
Zeller : “Nếu
anh cứ nghĩ rằng một điều duy nhất phải làm là sống
thu mình trong cái vỏ sò của chính mình, anh sẽ chẳng
bao giờ thấy được Thiên Chúa đáng yêu như thế nào
đâu. Anh phải yêu thương P. và tìm kiếm Thiên Chúa trong
P (…). Hãy đánh giá cao tình bạn của anh, hãy trả giá
cho tình bạn ấy bằng nỗi khổ của anh, hãy nhớ đến
tình bạn ấy trong thánh lễ của anh, và nên luôn có một
người thứ ba. Phần mở đầu tác phẩm Tình
bạn thiêng liêng
của Aelfred de Rievaulx viết như sau : ‘Chúng ta đây, anh
và em, và anh hy vọng rằng giữa hai chúng ta, Đức Kitô
là người thứ ba’. Thật tuyệt vời phải không ? Nếu
anh chạy trốn tình yêu, thì anh sẽ chẳng bao giờ thấu
hiểu được Thiên Chúa đáng yêu dường nào. Nhưng nếu
anh không để cho Thiên Chúa bước vào trong cuộc tình này
và dâng tặng Người tình yêu ấy, thì anh cũng không thể
nào hiểu biết được mầu nhiệm của tình yêu này. Nếu
chúng ta tách tình yêu của chúng ta ra khỏi Thiên Chúa,
cũng như ra khỏi những người khác, thì cả hai sẽ đầy
tràn nỗi cay đắng và sẽ trở thành không lành mạnh.
Đây chính là ý nghĩa của việc sống đời lứa đôi’”.
Giai
đoạn thứ ba, có lẽ là giai đoạn khó khăn nhất, đó
là tình yêu của chúng ta phải đem lại tự do cho con
người. Tất cả mọi thứ tình yêu, cho dù là tình yêu
của những người sống độc thân, phải là một tình
yêu mang tính giải phóng. Tình yêu của người chồng và
của người vợ phải mở ra những không gian tự do rộng
rãi và, đối với chúng ta là những linh mục hay tu sĩ,
thì điều này lại còn đúng hơn nữa. Chúng ta phải yêu
thương mọi người đến độ họ được tự do để yêu
thương những người khác nhiều hơn chúng ta. Thánh
Augustinô gọi vị giám mục là người bạn của chàng rể,
amicus sponsi.
Trong tiếng Anh, trong một hôn lễ, chúng ta vẫn thường
nói đến best man
(người phù rể). Người “đàn ông nổi nhất” này
không cố gắng lôi kéo tình yêu của cô dâu, và thậm
chí cũng chẳng phải để lôi kéo tình yêu của các cô
phù dâu ! Chàng phù rể này lôi hướng về một người
khác.
Ngày
kia, một người anh em Đa Minh người Pháp đã so sánh
Thiên Chúa với một quí
ông (gentleman)
người Anh vô cùng nhã nhặn đến nỗi ông tuyệt nhiên
không bao giờ muốn áp đặt lên những người mình thương
yêu. Ông ngoảnh mặt đi không nhìn vào chỗ cánh cửa hé
mở để bảo đảm rằng tất cả những biểu hiện tình
cảm yêu thương của họ sẽ diễn tiến thật tốt đẹp,
rồi sau đó, ngay cả khi ông rất muốn ở lại đây, ông
đã biến mất để lại họ chỉ còn hai người với nhau
thôi. C. S. Lewis diễn tả điều này cách khác : “Một
trong những đặc quyền của Thiên Chúa là luôn luôn ít
được yêu hơn là yêu”. Thiên Chúa luôn luôn là Đấng
yêu thương hơn là được yêu thương. Đó cũng có thể
là ơn gọi của chúng ta như Auden đã viết : “Nếu
tình yêu đồng đều là không thể có, người yêu nhiều
hơn ắt phải là tôi”1.
Điều
đó giả thiết là phải làm như thế nào đó để không
chiếm lấy trung tâm đời sống của những người khác
và không biến họ trở thành những người lệ thuộc
chúng ta. Chúng ta phải không ngừng nỗ lực cống hiến
cho họ những nâng đỡ và trợ giúp khác, ngõ hầu chúng
ta càng ngày càng trở nên ít quan trọng hơn đối với
họ. Điều này muốn nói rằng có thể có một vấn nạn
luôn được đặt ra : liệu tình yêu của tôi có làm cho
người tôi yêu trở nên mạnh mẽ hơn, độc lập hơn,
hay nó lại làm cho người này trở nên yếu nhược hơn,
lệ thuộc nhiều hơn ?
Thôi,
đủ rồi ! Tôi phải dừng thôi, nhưng tất nhiên là sau
suy nghĩ cuối cùng này. Học yêu để biết yêu thương là
một tiến trình đầy nguy hiểm. Chúng ta chẳng biết được
tiến trình này có thể đưa chúng ta đi đến đâu. Chúng
ta sắp khám phá thấy một sự đảo lộn toàn thể cuộc
đời chúng ta. Khi điều đó xảy ra chắc rằng đôi lúc
chúng ta có bị tổn thương đấy. Có một trái tim bằng
đá thì dễ hơn là có một trái tim bằng thịt nhiều,
nhưng trong trường hợp này có thể nói được là chúng
ta đã chết rồi ! Một khi đã chết, thì chúng ta chẳng
còn có thể nói về Thiên Chúa hằng sống được. Nhưng
phải sống cái chết và sự phục sinh này như thế nào
đây ?
Mỗi
lần cử hành Thánh Thể, chúng ta nên nhớ rằng Đức
Giêsu đã đổ máu mình ra để thứ tha tội lỗi. Điều
đó không muốn nói là Người phải làm nguôi cơn lôi
đình của Thiên Chúa ; thậm chí điều đó không chỉ
muốn nói rằng nếu chúng ta phạm phải lỗi lầm thì đi
xưng thú và được tha thứ là đủ rồi đâu. Quả là có
muốn nói đến điều đó, nhưng còn hơn thế nữa. Điều
muốn nói là, trong tất cả mọi cuộc vật lộn của
chúng ta nhằm trở thành những con người sống động và
biết yêu thương, thì Thiên Chúa luôn ở với chúng ta. Ân
sủng của Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta trong
những giờ phút thất bại và bối rối, để nâng đỡ
và vực chúng ta đứng dậy. Chẳng khác nào như, ngày
Chúa Nhật phục sinh, Thiên Chúa đã biến đổi ngày Thứ
sáu Tuần Thánh trở thành một ngày chúc phúc, chúng ta có
thể tin tưởng rằng tất cả mọi nỗ lực yêu thương
của chúng ta sẽ đơm bông kết trái. Như thế chẳng còn
lý do để chúng ta sợ hãi ! Chúng ta có thể gieo mình vào
cuộc mạo hiểm hướng đến cái chưa biết với niềm
tín thác và can đảm.
1
If equal affection cannot be, Let the more loving one be me.
“The more loving One”, Collected Shorter Poems :
1927-1957, London, 1966, p. 282.
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire