jeudi 9 avril 2015

tình cảm và thánh thể

TÌNH CẢM VÀ THÁNH THỂ

Đây là bài thuyết trình của cha Timothy Radcliffe, o.p., cựu Tổng quyền Dòng Anh Em Giảng Thuyết nhân Ngày Quốc Gia Mục Vụ Giới Trẻ lần thứ 34 về Ơn Thiên Triệu, từ 08 đến 10 tháng mười năm 2004, tại Madrid (Tây Ban Nha), do CONFER (Liên Hiệp tu sĩ Tây Ban Nha) tổ chức. Trong khung cảnh cuộc gập gỡ này và trước gần 1000 tham dự viên, cha Timothy Radcliffe, anh em giảng thuyết, cựu Tổng quyền Dòng này, đã thuyết trình về đề tài “Tình cảm và Thánh Thể”. Theo cha, điều can hệ nhất không phải là nhốt bản thân mình trong cái lý tưởng về sự thanh khiết, nhưng là khai triển khả năng yêu thương.

Bài này được dịch từ Documentation Catholique, 02 tháng giêng năm 2005, No 2327.

Tôi không hiểu chắc chắn lắm về ý nghĩa của từ afectividad trong tiếng Tây Ban Nha. Trong tiếng Anh, từ affectivity không chỉ nhằm nói đến khả năng yêu thương của chúng ta, mà còn liên hệ đến cách thức chúng ta yêu thương nữa, bởi lẽ chúng ta là những hữu thể có thân xác và giới tính, những chủ thể có cảm xúc và đam mê. Trong Kitô giáo, chúng ta nói rất nhiều về tình yêu, nhưng lắm lúc tình yêu này xem ra hơi trừu tượng, chẳng thực tế là mấy. Và lẽ tất nhiên chúng ta phải yêu thương như chúng ta là, với tư cách là những con người có giới tính, đầy ham muốn và những cảm xúc mãnh liệt, có nhu cầu được quan hệ mật thiết và được gần gũi nhau giữa người này với người kia.

Hẳn chúng ta phải là những kẻ chẳng ra làm sao cả nên khi nói về đề tài này mới thành ra lạ lẫm như vậy, vì chưng Kitô giáo là tôn giáo mang tính xác phàm nhất, hơn bất kỳ tôn giáo nào khác. Chúng ta thâm tín rằng Thiên Chúa đã sáng tạo nên những thân xác này, và Người đã thấy chúng ta tuyệt mỹ biết bao. Thiên Chúa đã đến trong xác phàm để cư ngụ giữa chúng ta, đã trở nên một người phàm như chúng ta. Đức Giêsu đã tặng ban cho chúng ta bí tích thân mình Người và Người đã hứa phục sinh thân xác chúng ta. Và như thế, đáng nhẽ chúng ta phải cảm thấy như được ở trong chính ngôi nhà của mình khi sống trong bản tính xác phàm của chúng ta, với những đam mê của nó và lẽ ra cũng phải cảm thấy thoải mái khi nói về sự yêu thương ! Ấy thế nhưng rất thường, khi Hội Thánh lên tiếng nói về yêu thương thì người ta vẫn cứ là hoài nghi. Chúng ta hầu như chẳng có chút thế giá nào khi nói về tính dục ! Thiên Chúa đã nhập thể trong Đức Giêsu Kitô, nhưng chúng ta, chúng ta vẫn còn cần phải học cho biết cách nhập thể chính mình vào trong thân xác chúng ta. Chúng ta phải hạ cánh trở lại trên mặt đất này.
Ngày kia, khi thánh Gioan Kim Khẩu đang thuyết giảng về đề tài tính dục, thấy thính giả đỏ mặt, người đâm ra hơi bực : “Sao anh chị em lại đỏ mặt ? Phải chăng đấy không phải là chuyện trong sáng ? Anh chị em đang xử sự như những người lạc giáo đấy nhá !” Cho rằng phải phớt tỉnh ăng-lê về tính dục là một khiếm khuyết đối với sự thanh khiết đích thực, và chí ít theo thánh Tôma Aquinô (II-III, 142,1), đây là một khiếm khuyết về luân lý ! Chính vì để giống một chút như những hữu thể có giới tính và đam mê này, chúng ta cần phải học cho biết yêu thương. Nếu khác đi, có lẽ chúng ta sẽ chẳng có gì để nói về Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu.
Tôi xin nói về Bữa Tiệc Ly và về tính dục. Nói thế xem ra là kỳ cục đấy, nhưng xin anh chị em cũng ngẫm nghĩ đôi chút. Những lời trọng tâm của Bữa Tiệc Ly là : “Đây là mình Thầy, và Thầy hiến tặng cho anh em”. Thánh Thể, cũng như giới tính, được đặt trọng tâm trên việc hiến dâng thân xác. Chắc anh chị em đã từng nhận thấy là thư thứ nhất gửi các tín hữu Côrintô xoay chung quanh hai chủ đề tính dục và Thánh Thể chưa ? Và sở dĩ như thế là vì thánh Phaolô biết là chúng ta phải hiểu điều này nhờ vào điều kia. Chúng ta hiểu Thánh Thể dưới ánh sáng của tính dục và hiểu tính dục dưới ánh sáng của Thánh Thể.

Hiến dâng thân thể của mình

Xã hội chúng ta khó lòng hiểu được sự dâng hiến này, bởi vì chúng ta có khuynh hướng coi thân thể chúng ta như một đối tượng thuộc quyền sở hữu của chúng ta. Một hôm, tôi đã tận mắt nhìn thấy một cuốn sách bàn về thân thể con người có nhan đề : Con người : đủ mọi kiểu dáng, đủ mọi hình thức, đủ mọi chiều kích, đủ mọi mầu sắc. Bản chỉ dẫn cho người sử dụng (Éditions Haynes). Đây là cuốn cẩm nang thuộc loại cẩm nang người ta đưa cho các bạn khi các bạn mua một chiếc ô tô hay một cái máy giặt. Nếu các bạn suy nghĩ về thân thể của mình theo quan điểm ấy, nghĩa là như thể một đối tượng quan trọng trong số những đối tượng khác, thì khi đó những hành vi tính dục chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả. Tôi có thể làm bất cứ những gì tôi muốn đối với những thứ tôi đang sở hữu, miễn là không phương hại tới ai. Tôi có thể sử dụng cái máy giặt của tôi để pha trộn những gam mầu cho nghệ thuật hội hoạ hay để nướng bánh ga-tô cũng được : vì cái máy giặt này là của tôi cơ mà ! Mà nếu vậy cớ sao tôi lại không thể làm những gì tôi muốn đối với thân thể của tôi cơ chứ ? Như thế là chúng ta đang suy nghĩ một cách tự nhiên, vì kể từ thế kỷ XVII, người ta đã đi tới chỗ tuyệt đối hoá quyền sở hữu. Là người chính là sở hữu.
Nhưng Bữa Tiệc Ly lại đưa chúng ta trở về với một truyền thống khác, vừa cổ kính hơn vừa giàu ý nghĩa hơn. Thân thể không chỉ là một tài sản quí giá mà tôi đang sở hữu. Thân thể chính là bản thân tôi. Đó là hữu thể của tôi, được đón nhận từ thân mẫu tôi và từ các bậc tiền bối của thân mẫu tôi và, đi cho đến cùng, là từ Thiên Chúa. Đến nỗi khi Đức Giêsu nói : “Đây là mình Thầy, và Thầy hiến tặng cho anh em”, thì không phải là Người đã vứt đi một tài sản quí giá đâu : Người truyền lại một ân huệ quà tặng là chính thân thể của Người. Hữu thể của Người là một hồng ân Chúa Cha ban tặng và đấy chính là cái mà Người truyền lại cho chúng ta.
Những tương giao tính dục phải nhắm đến mục đích là thực hiện việc trao hiến chính mình. Đây, tôi đây, và tôi xin dâng hiến cho chính anh chị em, tất cả những gì tôi là, bây giờ và mãi mãi. Và như thế, Thánh Thể giúp chúng ta hiểu đối với chúng ta những cá nhân với giới tính là gì, và tính dục của chúng ta cũng giúp chúng ta hiểu được Thánh Thể. Người ta thường coi đạo đức tính dục Kitô giáo như một rào cản đối kháng với những phong tục đương thời. Hội Thánh bảo cho chúng ta biết những gì chúng ta không được phép làm ! Thật ra, nền tảng của đạo đức tính dục Kitô giáo chính là học để biết cho đi và đón nhận những quà tặng.

Khi tôi gặp phải tiếng sét ái tình

Bữa Tiệc Ly là một khoảnh khắc của cơn khủng hoảng bất khả tránh né trong tình yêu của Đức Giêsu với các môn đệ của Người. Trên bước đường đời từ khi sinh ra cho đến ngày phục sinh, thì đây là khoảnh khắc Người cần vượt qua. Đây là khoảnh khắc trong đó tất cả đều bùng vỡ. Người đã bị một trong các bạn hữu của mình bán đứng. Đá tảng Phêrô săp sửa chối bỏ Người. Và hầu hết các môn đệ sẽ bỏ trốn. Như thường lệ, những người phụ nữ vẫn chính là những người luôn lặng lẽ ở lại với Người cho đến cùng ! Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đã không trốn tránh cuộc khủng hoảng này. Người đã dang rộng vòng tay đón nhận. Người đã ôm lấy sự phản bội và cả sự chối bỏ tình yêu nữa, và Người đã biến đổi tất cả thành một khoảnh khắc dâng hiến. “Thầy dâng hiến chính mình Thầy cho anh em. Anh em sẽ trao nộp Thầy vào tay những người Rôma để họ giết Thầy. Anh em sẽ bỏ mặc cho Thầy chết. Nhưng Thầy sẽ biến đổi tất cả thành khoảnh khắc dâng hiến, bây giờ và mãi mãi”.
Lớn lên cho tới chỗ trưởng thành và yêu thương có nghĩa là chúng ta buộc sẽ phải trải qua những cuộc khủng hoảng tương tự như thế, trong đó chúng ta sẽ có cảm tưởng là thế giới này đang sụp đổ hoàn toàn. Điều ấy diễn ra theo kiểu bi kịch đối với những ai bước vào tuổi mới lớn, và điều ấy có thể sẽ diễn ra trong suốt cuộc đời, ngay cả khi người ta đã lập gia đình hoặc người ta đã là tu sĩ hay linh mục nữa. Thường thường một cuộc khủng hoảng kiểu như thế này sẽ bùng phát vào khoảng năm hay sáu năm sau khi cam kết sống đời hôn nhân hay trong hàng tư tế. Chúng ta buộc lòng phải đối diện thôi.
Đức Giêsu đã có thể lẻn ra cửa và trốn đi. Người đã có thể bỏ các môn đệ vì chẳng còn gì để dính dáng đến các ông này nữa. Nhưng không. Người đã đón nhận khoảnh khắc này trong lòng tin. Và chúng ta sẽ chỉ có khả năng giúp đỡ các bạn trẻ thực hiện được điều này nếu chính bản thân chúng ta đã kinh nghiệm những khoảnh khắc như thế và dám can đảm đối diện với những khoảnh khắc ấy. Bản thân tôi đã từng trải qua chuyện này rồi ! Tôi vẫn còn nhớ vài năm sau khi được thụ phong linh mục, tôi đã gặp phải tiếng sét ái tình. Vì lần đầu tiên tôi gặp được con người mà đáng nhẽ tôi sẽ cưới lấy làm vợ với niềm hạnh phúc ngút ngàn. Và người ấy đáng nhẽ cũng đã cưới tôi trong niềm hạnh phúc ngút ngàn như thế. Đó là khoảnh khắc của lựa chọn. Tôi đã tuyên khấn trọng thể với cả niềm vui. Tôi vẫn yêu thương các anh chị em Đa Minh của tôi. Tôi vẫn yêu mến sứ vụ của Dòng. Tuy nhiên, trong khi khấn, tôi lại có một thắc mắc hơi phù phiếm trong đầu : “Nét gì trong chuyện này làm cho tôi ra vẻ một chú rể ?”.
Vào khoảnh khắc lựa chọn đó, tôi phải chấp nhận sự lựa chọn đã được quyết định khi tôi tuyên khấn trọng thể. Hay chính xác hơn, tôi phải chấp nhận sự lựa chọn mà Thiên Chúa đã thực hiện cho tôi, đây chính là cuộc sống mà Người đã mời đã gọi tôi sống. Đó là những khoảnh khắc đau thương lắm, nhưng cũng là những khoảnh khắc của hạnh phúc ngập tràn. Tôi hạnh phúc bởi vì tôi đã yêu thương con người này, và từ đó chúng tôi vẫn luôn là những người bạn rất thân. Đó còn là khoảnh khắc hạnh phúc bởi vì tôi đã được giải phóng khỏi những ảo ảnh tôi từng có trong đầu vào giây phút tuyên khấn trọng thể. Tôi đã lại từ từ đáp xuống mặt đất. Tâm trí tôi phải nhập thể vào trong chính ngôi vị của tôi đúng như tôi đang là, trong cuộc sống mà Thiên Chúa đã chọn lựa cho tôi, trong tấm thân này và trong máu huyết này. Cuộc khủng hoảng đó đã đặt đôi chân tôi đứng trở lại trên mặt đất.
Đa số trong chúng ta, điều đó không phải chỉ diễn ra một lần. Trong cuộc đời, chúng ta có thể trải qua rất nhiều cuộc khủng hoảng tình cảm. Tôi đã từng kinh nghiệm điều ấy, và ai biết trước được chuyện gì sẽ còn xảy ra nữa đây ? Nhưng chúng ta phải đương đầu với những cuộc khủng hoảng đó, như Đức Giêsu đã từng đương đầu trong Bữa Tiệc Ly, với lòng can đảm và tín thác. Khi đó, chúng ta sẽ an nhiên đi vào vào trong thế giới thực tại của thân thể và máu huyết chúng ta.
Một tu sĩ Dòng Biển Đức, người Ailen, tên là Mark Patrick Hederman đã viết : “Tình yêu là sức mạnh duy nhất hội đủ sự mãnh liệt buộc chúng ta phải rời bỏ nơi trú ẩn đầy tiện nghi thoải mái của thái độ cá nhân chủ nghĩa vốn đã được chúng ta bảo vệ kỹ lưỡng, đồng thời bước ra khỏi cái vỏ sò bất khả xuyên thấu của thái độ tự mãn của chúng ta, buộc chúng ta phải hội nhập bản thân mình vào khuôn mặt đã được khám phá trong vùng nguy hiểm, trong lò thử thách này chính là nơi con người cá nhân chủ nghĩa sẽ được thanh luyện và trở thành một ngôi vị”. Và nếu anh chị em không đồng ý với vị tu sĩ Dòng Biển Đức người Ailen trên, thì xin anh chị em tin thánh Tôma Aquinô vậy : “Ai yêu thương thì nhất thiết phải vượt qua cõi biên thuỳ đang giam hãm mình trong những giới hạn riêng tư của chính mình. Chính vì lẽ ấy người ta nói về tình yêu rằng tình yêu khiến cho trái tim tan chảy : cái gì tan chảy thì không còn bị hạn chế trong những giới hạn riêng của bản thân mình nữa, điều này hoàn toàn trái ngược với những gì gọi là sự chai đá của trái tim”. Chỉ có tình yêu mới có khả năng làm nổ tung trái tim bằng đá của chúng ta và tặng cho chúng ta một trái tim bằng thịt.

Cơn cám dỗ về thứ lòng nhân ái kiểu viễn vọng

Mở lòng ra đón nhận tình yêu là việc nguy hiểm vô cùng. Có thể vì đó mà ta sẽ bị thương tổn. Bữa Tiệc Ly là câu chuyện kể về sự bất trắc tất phải có chỉ vì yêu. Đức Giêsu đã phải chết : bởi vì Người đã yêu. Và đây là điều đặc biệt nguy hiểm đối với một linh mục hay một tu sĩ. Trong khi yêu, người ta đánh thức những đam mê và ước muốn cực kỳ sâu xa và xao xuyến ; có thể người ta rơi vào nguy cơ đánh mất ơn gọi của mình hay dẫn đến một đời sống lứa dôi. Ân sủng sẽ là điều luôn luôn cần thiết nếu người ta muốn vượt qua những nguy cơ này. Nhưng nếu không mở lòng ra đón nhận tình yêu thì lại còn nguy hiểm hơn gấp bội ; đây là mối nguy hiểm chết người. Xin mời anh chị em nghe C. S. Lewis phát biểu : “Yêu là thực tại duy nhất làm cho trở nên dễ bị thương tổn. Hãy yêu bất cứ điều gì, và trái tim các bạn sẽ bị xé nát vì điều ấy, và có thể còn bị tan vỡ nữa là đàng khác. Nếu các bạn cứ muốn giữ cho trái tim chắc chắn khỏi bị sứt mẻ, thì xin các bạn đừng có dâng hiến trái tim các bạn cho bất cứ người nào, thậm chí là cho một con vật. Các bạn hãy bao bọc trái tim thật kỹ lưỡng bằng những chuyện tầm phào và những đồ trang sức rẻ tiền ; hãy tránh né mọi thứ dấn thân ; hãy cất giữ trái tim của các bạn cho thật an toàn, trong một cái rương hay trong một chiếc quan tài do lòng vị kỷ của các bạn chế tạo ra cũng được. Nhưng, trong cái rương chắc chắn, tối tăm, bất động và kín như bưng này, trái tim sẽ biến dạng. Nó sẽ không bị tan vỡ, nó sẽ trở nên như sắt. Như đá. Bất khả xâm nhập. Bất khả đụng chạm. Tuỳ sự lựa chọn của các bạn, khả năng duy nhất còn lại, khác tấn bi kịch vừa kể trên, hay ít ra là có nguy cơ trở thành bi kịch như thế, chính là lời kết án. Bên ngoài thiên đàng, nơi duy nhất các bạn được bảo vệ khỏi bất kỳ sự hiểm nghèo nào và bất kỳ nỗi thăng trầm nào của tình yêu, đó là hoả ngục”.
Khi cử hành Thánh Thể, chúng ta nên nhớ rằng máu Đức Kitô đã đổ ra “vì anh em và vì hết mọi người”. Trong ý nghĩa sâu xa nhất, mầu nhiệm tình yêu đồng thời vừa mang tính cá nhân vừa mang tính phổ quát. Nếu tình yêu của chúng ta chỉ thực sự mang tính cá nhân, thì tình yêu này có nguy cơ bị giới hạn vào thái độ hướng nội và trở nên ngột ngạt. Nếu tình yêu này thực sự là một tình yêu mơ hồ và vô định đối với toàn thể nhân loại, thì nó có nguy cơ trở nên trống rỗng và hão huyền. Cơn cám dỗ của một đôi vợ chồng có thể là muốn có một tình yêu thật mãnh liệt, nhưng lại khép kín và loại trừ ; thường thường, điều duy nhất khi đó có khả năng cứu cho đôi vợ chồng này khỏi bị tan vỡ, đó là sự xuất hiện của một người thứ ba tức là đứa con, một con người sẽ mở cho tình yêu của họ được rộng ra. Còn cơn cám dỗ của những người sống độc thân có thể là một tình yêu thuần tuý phổ quát, một tình yêu mặn nồng đối với cả và nhân loại. Nhưng đó lại là một tình yêu mơ hồ. Trong Bleak House (Ngôi nhà lạnh lẽo), tiểu thuyết gia Charles Dickens kể cho chúng ta biết lý do tại sao quí bà Jellyby lại là một con người có một thứ “lòng nhân ái kiểu viễn vọng kính, bởi vì bà đầm ấy đã không thể nhìn thấy bất cứ cái gì gần hơn là lục địa châu Phi”. Bà đã yêu mến cái châu Phi chung chung, nhưng thậm chí lại không nhận ra ngay sự hiện hữu của những người con của riêng bà !
Những ai đi tu thì không được lẩn trốn trong một thứ nhân ái kiểu viễn vọng như thế. Việc tiến đến gần mầu nhiệm tình yêu cũng có ý nghĩa là chúng ta đang yêu thương những con người, đôi khi bằng tình bạn, đôi khi bằng tình cảm quyến luyến sâu xa. Chúng ta phải học cho biết cách hội nhập các loại tình yêu này vào trong căn tính tu trì của chúng ta. Dường như ngày xưa người ta thường cảnh giác các tu sĩ là phải đề phòng “những tình bạn đặc biệt”. Anh Gervase Matthew đáng kính của chúng tôi thì luôn nói rằng chính “những mối hiềm khích đặc biệt” mới là những điều đáng phải e ngại hơn nhiều !
Bède Jarrett là Giám Tỉnh Tỉnh Dòng Đa Minh Anh Quốc trong những năm 30. Cha đã viết một bức thư tuyệt vời gửi cho một đan sĩ trẻ Dòng Biển Đức tên là Hubert van Zeller, người tu sĩ này sau chiến tranh đã trở nên nổi tiếng nhờ những tác phẩm của anh viết về linh đạo. Chàng đan sĩ trẻ tuổi này có lần gập phải tiếng sét ái tình với một người mà chúng ta chỉ biết được chữ đầu tiên của tên người ấy là P. Đúng là một thử thách khủng khiếp ! Chàng đan sĩ ấy đã lo lắng, chỉ sợ mối tình này sẽ đặt dấu chấm hết cho ơn gọi tu trì của mình. Cha Bède thi lại thấy đây mới chỉ là bước khởi đầu trong ơn gọi của anh. Về điểm này, tôi xin trích dẫn hơi dài một tí để hầu anh chị em. Và ta sẽ phải ngỡ ngàng không ít khi nhớ thêm rằng bức thư này được viết ra lúc cha đã ở vào tuổi thất tuần.
Tôi thấy hạnh phúc [vì anh đã bị tiếng sét ái tình của P.] bởi vì tôi nghĩ rằng cơn cám dỗ đã làm cho anh luôn bị phơi bày ra đó, nó thuộc về chủ thuyết thanh giáo (puritanisme), một sự hẹp hòi, một thứ phi nhân nào đó. Khuynh hướng của anh cho thấy lúc nào anh cũng chỉ khước từ tôn trọng vật chất. Anh có vẻ yêu Chúa [Giêsu], nhưng chắc không thực sự mến yêu mến cuộc Nhập Thể. Thực vậy, anh có vẻ sợ hãi. Có lẽ anh nghĩ (ở đây, tôi qui cho anh một loại thiếu sót mà không cần bằng chứng) rằng, nếu anh thôi chống trả, anh sẽ bị tiêu tan. Nơi anh đầy dẫy những ức chế. Những ức chế này suýt nữa đã giết chết anh, và suýt nữa thì làm tiêu ma nhân tính của anh. Anh có vẻ sợ hãi cuộc đời bởi vì anh mong muốn là một vị thánh, và bởi vì anh tưởng anh là một nghệ sĩ. Người nghệ sĩ trong anh có thể nhìn thấy vẻ đẹp ở khắp nơi ; vị thánh của ước muốn lại bảo “nhưng điều đó chính là một điều nguy hiểm khủng khiếp” ; còn người tập sinh trong anh thì nói “Cứ nhắm tịt mắt lại là xong !” Và thế là Claude [tên thánh của Hubert van Zeller] suýt nữa đã bị nổ tan tành. Nếu P. đã không bước vào cuộc đời anh, thì rất có thể anh đã bị nổ tung mất rồi. Tôi tin rằng P. sẽ cứu cuộc đời anh. Tôi dâng một thánh lễ tạ ơn vì những gì P. đã là, và đã làm, cho anh. Chắc là anh còn cần có P. lâu dài đấy ! Những kẻ đồng tính chẳng phải là giải pháp đâu. Cũng không phải là những ông lão giám tỉnh bụng phệ này đâu nhá !
Tôi không có ý bảo rằng như vậy tất cả chúng ta phải vội vã xông ngay ra cửa để tìm một ai đó mà yêu đâu nhá ! Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta những tình yêu và tình bằng hữu góp phần tạo nên những nẻo đường để chúng ta lữ hành tiến bước mà đến với Người, Đấng là Tình Yêu sung mãn. Chúng ta sống trong sự mong chờ ai đó mà Thiên Chúa gửi đến, khi nào, và như thế nào. Nhưng khi những điều đó xảy đến, chúng ta phải can đảm để ôm chầm lấy cái khoảnh khắc ấy, như Đức Giêsu đã thực hiện trong Bữa Tiệc Ly.

Vậy, sống thanh khiết nghĩa là gì ?

Khi thực hiện điều này, chúng ta sẽ phải học để trở thành những con người thanh khiết. Tất cả mọi người, những người sống độc thân, những người đã xây dựng gia đình, tu sĩ nam nữ, chúng ta hết thảy được mời gọi sống thanh khiết. Từ ngữ thanh khiết không phổ biến lắm trong thời đại chúng ta. Nó khiến người nghe nghĩ đến một cái gì đó đoan trang thuỳ mị, nhưng lạnh lùng xa vắng, và nửa sống nửa chết, tóm lại là chẳng liên quan đến điều gì hết. Herbert McCabe, o.p. từng viết rằng “sự thanh khiết nào mà không phải là biểu đạt của tình yêu thì chỉ là cái xác chết của sự thanh khiết chân thực”. Xác một con chó vẫn mang hình dáng con chó. Thậm chí người ta có thể nhầm mà bảo rằng đấy là con chó đang ngủ ! Nhưng đó không phải là một con chó mà chỉ là một con-trước-đây-là-con-chó. Tương tự như thế, một người sống độc thân nhưng không biết yêu biết thương gì hết, thì có thể vẫn cứ giống với một con người thanh khiết đấy, nhưng thực thì đã chết mất rồi !
Như vậy thì sống thanh khiết nghĩa là gì ? Trước hết sự thanh khiết không hệ tại ở chỗ triệt tiêu những ham muốn, ít ra là theo truyền thống của thánh Tôma Aquinô. Ham muốn và những đam mê hàm chứa nhiều chân lý sâu xa về những gì chúng ta đang là và những gì cần thiết đối với chúng ta. Bóp chết những ham muốn và đam mê sẽ chỉ giết chết chúng ta về đàng tinh thần mà thôi hoặc, một ngày nào đó, sẽ khiến cho chúng ta bị lệch lạc. Chúng ta phải giáo dục những ham muốn của bản thân chúng ta, mở rộng đôi mắt nhìn vào những đối tượng thực tế của chúng, giải phóng chúng khỏi những khoái lạc bé nhỏ và ngắn hạn. Chúng ta phải ham muốn càng ngày càng sâu xa hơn nữa và càng ngày càng trong sáng hơn nữa.
Thánh Tôma đã viết một điều mà chính người cũng rơi vào tình trạng khó giải thích. Người nói thế này : sự thanh khiết cốt ở chỗ sống theo trật tự của lý trí (II-II, 151, 1). Xem ra như thế khá là lạnh lùng, và hơi quá lý trí, như thể việc sống thanh khiết hoàn toàn nằm trong khả năng của tinh thần vậy. Nhưng, qua từ ngữ ratio, thánh Tôma muốn nói đến việc sống trong một thế giới thực tế, “theo chân lý của những sự vật có thực”. Điều đó muốn nói rằng tôi phải sống trong thực tại của những gì tôi đang là và thực tế của những gì nơi những người tôi thương tôi mến đang thực sự là. Đam mê và ham muốn có thể lôi cuốn chúng ta đến chỗ sống trong sự tưởng tượng, trong khi sự thanh khiết thì đưa chúng ta về lại với mặt đất này, và có khả năng nhìn thấy được sự vật như chúng đang là. Đối với một người tu hành, hay đôi khi đối với những người sống độc thân, có thể nảy sinh cám dỗ muốn ẩn mình trong cái ảo tưởng nguy hiểm rằng chúng ta là những thiên thần thanh khiết, chẳng dính dáng gì đến tính dục cả. Điều này có vẻ giống với sự thanh khiết, nhưng đấy lại là sự băng hoại và lệch lạc. Nói như thế khiến tôi nhớ lại câu chuyện của một người anh em trong dòng của tôi, khi đến dâng thánh lễ ở cộng đoàn các nữ tu, một chị nữ tu ra mở cửa nhìn thấy anh và nói : “À, cha đấy hả, thế mà cứ tưởng là ông nào !”
Người ta khó có thể tưởng tưởng được một cuộc cử hành tình yêu nào lại tầm thường hơn là Bữa Tiệc Ly. Trong Bữa Tiệc Ly, chẳng có chút gì là lãng mạn cả : Đức Giêsu đã không úp mở với các môn đệ của Người rằng mọi sự sắp tới hồi kết thúc, rằng một số trong các ông sẽ phản bội Người, rằng ông Phêrô sẽ chối Người, rằng những người khác thì sẽ bỏ trốn. Đây hoàn toàn không phải là một bữa ăn tối ấm cúng và dễ thương với những cây bạch lạp lung linh sáng trong một trattoria (quán ăn bình dân ở Italia). Đây đúng là một thứ duy thực tột cùng. Tình yêu tạ ơn đặt chúng ta trong tư thế phải đối diện thẳng thắn và không ngần ngại với những rắc rối của tình yêu, với những thất bại ê chề, cũng như với chiến thắng tối hậu của tình yêu.
Trong những loại ảo ảnh nào ước muốn có thể làm cho chúng ta mắc bẫy ? Tôi xin phân biệt hai loại ảo ảnh. Loại ảo ảnh thứ nhất là cám dỗ tin rằng người khác là tất cả, tất cả những gì chúng ta đang tìm đang kiếm, tất cả những gì có khả năng đáp ứng cho những khát vọng của chúng ta. Đấy là sự ám ảnh. Loại ảo ảnh thứ hai là không có khả năng nhìn thấy được nhân tính nơi người khác, giản lược người khác xuống hàng sự phục vụ nhằm thoả mãn những xung động của chúng ta. Đây là sự dâm dục. Hai loại ảo ảnh này thực ra cũng không khác nhau lắm, vì ngay từ đầu chúng đã giống nhau rồi. Ảo ảnh này là phản ánh của ảo ảnh kia.

Ước muốn sự thân mật

Tôi giả thiết là tất cả chúng ta đều đã trải qua những khoảnh khắc ám ảnh này, khi mà một ai đó trở nên đối tượng của toàn thể những khát vọng nơi bản thân chúng ta, trở thành biểu tượng của tất cả những điều chúng ta chưa từng ước muốn bao giờ, trở thành lời đáp trả cho toàn thể những nhu cầu của chúng ta. Nếu chúng ta không kết hiệp sâu xa với con người ấy, thì cuộc đời chúng ta có nguy cơ trở thành trống rỗng và mất đi toàn bộ ý nghĩa. Đối tượng tình yêu của chúng ta sẽ lấp đầy cái giếng sâu thẳm của những nhu cầu mà chúng ta khám phá thấy trong chính bản thân chúng ta. Suốt cả ngày lúc nào chúng ta cũng cứ tâm tưởng đến những nhu cầu ấy. Như đại văn hào Shakespeare đã diễn đạt điều ấy thật là tuyệt vời : “Và thế là ban ngày thì chân tay anh, ban đêm thì tâm trí anh, cho em, và cho anh, hầu như chẳng tìm được chút nghỉ ngơi thư thái nào”.
Hoặc, để gọi là hiện đại hơn một chút, thì khuôn mặt người được yêu phải giống như chương trình bảo vệ màn hình máy vi tính của chúng ta. Vào khoảnh khắc khi mà ta ngừng suy nghĩ về một điều nào khác, thì cái chương trình đó lại xuất hiện. Điều đó cứ như thể là một sự tù đày, một tình trạng nô lệ, nhưng lại là một thứ nô lệ mà chúng ta chẳng mong muốn thoát ra chút nào. Chúng ta thần hoá người được chúng ta yêu, và đặt người đó vào vị trí của Thiên Chúa. Hiển nhiên, những điều chúng ta tôn thờ đó chính là công trình sáng tạo của chúng ta cho chúng ta. Đó là một sự phóng chiếu. Có lẽ tất cả mọi tình yêu đều phải trải qua giai đoạn ám ảnh kỳ lạ này. Phương thuốc chữa trị duy nhất là sống cùng với con người ấy ngày này qua ngày khác, và khám phá ra rằng con người ấy không phải là Thiên Chúa nhưng chỉ là con đẻ của mình. Tình yêu bắt đầu ngay khi chúng ta được chữa lành khỏi ảo vọng này và lúc đó chúng ta đối diện với một ngôi vị thực sự, chứ không phải một phóng chiếu từ những khát vọng của chúng ta. Như Octavio Paz đã nói : “Tình yêu mạc khải thực tại cho khát vọng”.
Vậy thì chúng ta tìm kiếm cái gì trong tất cả những điều này ? Cái gì là nguyên cớ gây nên sự ám ảnh này ? Tôi chỉ có thể phát biểu với tính cách cá nhân mà thôi, nhưng khi đó tôi sẽ nói rằng cái luôn luôn dứng đằng sau những xáo trộn cảm xúc nhất thời của tôi là một ước muốn sự thân mật. Đó là khát vọng được hoàn toàn trở nên một, khát vọng làm biến mất những biên thuỳ chia cách giữa tôi và một người khác, được đánh mất chính mình trong một người khác, để khai mở một sự hiệp thông tinh ròng và hoàn toàn. Đúng hơn là một sự đam mê tính dục, tôi thiết nghĩ rằng chính cái ước vọng sự thân mật này mới là điều mà đa phần con người đang tìm kiếm. Nếu chúng ta phải trải qua những cuộc khủng hoảng tình cảm, thì chúng ta cũng cần phải nhìn nhận nhu cầu thân mật này của chúng ta.
Xã hội chúng ta được xây dựng chung quanh huyền thoại kết hợp tính dục như thể sự đăng quang của toàn bộ ước muốn sự thân mật. Chính khoảnh khắc âu yếm và kết hợp thân xác trọn vẹn này đã tạo nên sự thân mật toàn diện và là sự hiệp thông tuyệt đối. Rất nhiều người lãng quên sự thân mật này bởi vì họ không lập gia đình hoặc đời sống hôn nhân của họ không hạnh phúc, hoặc bởi vì họ là những linh mục hay tu sĩ. Và chúng ta có thể cảm thấy mình bị tước đoạt một cách bất công những gì là nhu cầu thâm sâu nhất của chúng ta. Điều này xem ra có vẻ võ đoán ! Tại sao Thiên Chúa lại có thể tước đi khỏi bản thân tôi khả năng thoả mãn khát vọng thâm sâu này ?
Tôi thiết nghĩ rằng tất cả mọi người, dù đã lập gia đình hay sống độc thân, tu sĩ hay giáo dân, phải học để tập thích ứng với những giới hạn của sự thân mật mà mọi người buộc phải đối diện. Giấc mơ về một cuộc hiệp thông toàn diện là huyền thoại vốn đã xui khiến một số tu sĩ luôn khát khao lập gia đình, và một số người đã lập gia đình lại mong muốn xây dựng gia đình với một người khác nữa. Hẳn nhiên sự thân mật chỉ hạnh phúc nếu chúng ta chấp nhận những giới hạn của nó. Chúng ta có thể phóng chiếu trên những cặp vợ chồng một sự thân mật tuyệt đẹp và toàn diện, nhưng trong thực tế đây lại là điều bất khả và chỉ là sự phóng chiếu những giấc mơ của chúng ta mà thôi. Rilke đã hiểu rằng không thể có một sự thân mật đích thực nơi đôi vợ chồng, nếu mỗi người không nhìn nhận rằng người khác, theo một cách nào đó, vẫn luôn luôn là đơn độc. Tất cả mọi người đều giữ kín một phần cô đơn nào đó chung quanh mình vốn không thể bị tiêu diệt. “Một cuộc hôn nhân hạnh phúc là một cuộc hôn nhân trong đó người này làm cho người kia trở thành kẻ canh gác nỗi cô đơn của mình, và dành cho người kia sự tin tưởng (…) Một khi người ta đã thấu hiểu và chấp nhận rằng, ngay cả giữa những người gần gũi nhất, vẫn luôn tồn tại những khoảng cách vô biên, thì khi đó người ta có thể sát cánh cùng nhau để khai triển một cuộc sống huyền diệu, và nếu họ biết yêu mến khoảng cách giữa họ với nhau vốn đã cống hiến cho mỗi người khả năng để nhìn thấy người khác toàn diện hơn dựa trên một hậu trường rộng lớn và tuyệt vời”.

Tiến đến gần trung tâm cuộc đời người khác

Không ai có thể đem đến cho chúng ta sự thoả mãn toàn diện đối với những điều chúng ta đang khao khát. Điều này chỉ có thể tìm thấy nơi Thiên Chúa mà thôi. Rowan Williams, một người chồng và là Tổng giám mục Cantobéry, đã viết : “Một con người trở nên trưởng thành và trung tín khi mà người ấy ý thức được về căn bệnh vô phương chữa trị của những khát vọng trong bản thân mình : thế giới này là như thế đó, chẳng có cái gì ban tặng cho người nào đấy một căn tính mà lại không có thiếu sót và cần phải hoàn thành”. Hoặc theo Jean Vanier : “Nỗi cô đơn nằm sâu trong hữu thể con người bởi vì chẳng có điều gì trong cuộc đời này có khả năng thoả mãn hoàn toàn những nhu cầu của trái tim con người”.
Đối với những người đã lập gia đình, thì sự thân mật diệu huyền là điều khả dĩ nếu một khi người ta biết chấp nhận là kẻ canh gác nỗi cô đơn của người khác, như Rilke đã nói ; và đối với chúng ta là những người không lập gia đình hoặc cam kết khấn sống đời độc thân, cũng có thể khai mở được một sự thân mật thâm sâu và diệu huyền với những người khác. Từ ngữ intimité (sự thân mật) phái sinh từ hạn từ intimare trong tiếng Latinh, có nghĩa là “sống liên hệ mật thiết với những gì là thâm sâu nhất nơi một người khác”. Bởi vì tôi là một nhà tu hành, lời khấn thanh khiết đã cống hiến cho tôi khả năng để trở nên thân mật một cách khó tin với những người khác. Bởi vì tôi chẳng có sổ nhật ký bí mật và tinh yêu của tôi không phải là để tàn phá, mà cũng chẳng phải để chiếm hữu, cho nên tôi có thể tiến đến rất gần trung tâm cuộc sống của một số người.
Cái bẫy được đặt đối lập với sự ám ảnh không hệ tại ở chỗ đặt người khác thay vào vị trí của Thiên Chúa, nhưng là biến người khác trở thành một đối tượng thuần tuý, một điều gì đó có khả năng thoả mãn những nhu cầu tính dục. Dục vọng bịt mắt chúng ta không cho chúng ta nhìn thấy người khác với tư cách là một ngôi vị, nhìn thấy sự mỏng giòn cũng như những phẩm tính của họ. Thánh Tôma, khi viết về đức thanh khiết, đã nói rằng khi con sư tử nhìn thấy con nai cái là nó nhìn thấy một bữa ăn, và rằng dục vọng đã biến chúng ta trở thành những kẻ săn bắt, những động vật săn mồi nhìn thấy những gì chúng có thể ngấu nghiến. Còn ở đây, sự thanh khiết cốt ở chỗ sống trong thế giới thực hữu. Sự thanh khiết mở mắt chúng ta và giúp chúng ta nhận ra rằng cái đang ở trước mặt chúng ta hiện hữu, vâng, đúng như vậy, một thân thể mĩ miều, nhưng thân thể này lại là một con người. Thân thể này không phải là một đối tượng nhưng là một chủ thể. Tôi xin một lần nữa trích lời Hederman : “Lời khấn thanh khiết ngăn cản những bước chân của kẻ săn mồi không cho phép thực hiện điều mà chúng ta muốn tiến hành theo lẽ tự nhiên : đặt bẫy săn những người khác, và như thế là đang tiến tới chỗ thành một động vật săn mồi”. Điều vô cùng khủng khiếp trong những câu chuyện về lạm dụng tình dụng thường là đã có một sự chuẩn bị được tính toán khéo léo.
Người ta có thể tin rằng dục vọng là một đam mê tình dục không thể làm chủ được, một nỗi khao khát tính dục phóng túng. Nhưng thánh Augustinô, người đã kinh nghiệm sâu xa trong vấn đề này, lại cho rằng dục vọng là nỗi khát khao muốn được thống trị tha nhân hơn là khát khao khoái lạc tình dục. Dục vọng liên quan đến libido thống trị (libido dominandi), nỗi khát khao muốn được thống trị đã biến chúng ta trở thành thiên Chúa. Dục vọng liên quan đến quyền lực nhiều hơn là liên quan đến tính dục. Như Sébastien Moore đã viết điều này : “Dục vọng không phải là một đam mê tính dục thoát ra khỏi sự kiểm soát của ý chí, nhưng là một đam mê tính dục nhằm chiếm một chỗ đứng trong ý chí của Thiên Chúa (…) Trách nhiệm của chúng ta không phải là bắt đam mê tính dục phải tuân phục ý chí, nhưng là phục hồi nguyên vẹn cho đam mê tính dục bản tính khao khát đích thực của nó, là tìm thấy cội nguồn và cứu cánh trong Thiên Chúa, và sự giải thoát được thực hiện nhờ ân sủng của Thiên Chúa được thực hiện trong đời sống, lời giáo huấn, cái chết trên thập giá và sự phục sinh của Đức Kitô”.

Mối nguy hiểm của việc biến bản thân mình thành một vị thiên chúa

Để vượt qua dục vọng này, thì bước đầu tiên không phải là triệt tiêu hết mọi khao khát, nhưng là phục hồi, giải phóng, và tái khám phá rằng những điều mà khao khát này nhắm đến không phải là một đối tượng nhưng là một con người. Có quá nhiều vụ tai tiếng đáng buồn về tội lạm dụng tình dục đối với trẻ vị thành niên do các linh mục hay tu sĩ không có đủ khả năng để đảm nhận những mối tương quan trưởng thành với những đối tác bình đẳng với mình ! Họ chỉ có thể tìm kiếm những mối tương quan ở nơi đâu họ có quyền lực và thế giá. Họ phải làm như thế, vì họ không muốn bản thân họ có thể bị tổn thương. Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu cầm lấy bánh, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói : “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em”. Người đã tự hiến chính mình. Thay vì bắt các môn đệ phải phục tùng mình, Đức Giêsu đã tự hiến tế vì họ để thực hiện những điều họ mong muốn. Và chúng ta biết rõ đâu là những điều họ sắp thực hiện. Đây là sự tổn thương ghê gớm của một tình yêu đến cùng.
Dục vọng và ám ảnh có thể xem ra khá khác nhau, và tất nhiên cái này là phản ánh chính xác của cái kia. Trong ám ảnh, người ta biến người khác trở thành một vị thiên chúa, còn trong dục vọng người ta biến chính mình trở thành thiên chúa. Trong trường hợp này, người ta tỏ ra mình hoàn toàn bất lực, còn trong trường hợp kia, người ta khao khát quyền lực tuyệt đối. Rowan Williams viết rằng : “Tình yêu là sự do dự giữa thái độ vị kỷ và tinh thần quên mình”. Tình yêu mang đến cho chúng ta một cảm thức mãnh liệt về chính bản thân chúng ta, nhưng đồng thời tình yêu cũng khiến cho chúng ta không còn ý thức nữa. Dục vọng có thể xuất hiện khi mà thái độ vị kỷ thắng thế, và ám ảnh xuất hiện khi tinh thần quyên mình mất đi toàn bộ ý nghĩa căn tính của mình.
Như thế, sống thanh khiết cốt ở chỗ sống trong thế giới thực hữu, nghĩa là nhìn người khác (nam hay nữ) như họ đang là, và chính bản thân mình như mình đang là. Họ chẳng phải là những vị thần vị thánh, mà cũng chẳng phải thuần tuý chỉ là một khối xương thịt. Chúng ta, cả hai đều là con cái Thiên Chúa. Chúng ta có một lịch sử. Chúng ta đã thực hiện những lời khấn, những lời hứa. Người khác cũng đã thực hiện những lời cam kết, có thể với tư cách là một đối tác hay một người phối ngẫu. Chúng ta, những linh mục hay tu sĩ, chúng ta đã dâng hiến bản thân mình cho Hội Dòng của chúng ta và cho giáo phận của chúng ta. Chính trong tư cách là những người đã đảm nhận và được liên kết qua những cam kết khác nhau, nên chúng ta có thể phải học để biết yêu thương với một trái tim rộng mở và một đôi mắt luôn biết nhìn ra rộng hơn, rộng hơn mãi.
Thực hiện được điều ấy là rất khó, bởi vì chúng ta đang sống trong thế giới của internet. Đây là một thế giới của thực tại ảo, trong đó người ta có thể sống trong những thế giới tưởng tượng mà cứ như thể chúng đang thực hữu vậy. Chúng ta đang sống trong một nền văn hoá rất khó phân biệt giữa cái tưởng tượng với cái có thực. Tất cả đều là khả dĩ trong cái thế giới ảo này. Chính vì vậy, sự thanh khiết trở nên khó khăn : sự thanh khiết là một nỗ lực không ngừng để nhìn thấy thực tại.
Như vậy, làm thế nào chúng ta có thể đáp cánh hạ xuống lại trên mặt đất này. Tôi xin nhấn mạnh đến ba giai đoạn. Chúng ta cần phải học để biết mở rộng đôi mắt và để nhìn thấy khuôn mặt của những người anh chị em đang hiện hữ trước mắt chúng ta. Liệu đã có bao nhiêu lần chúng ta chú ý đến khuôn mặt của những người khác đúng như họ đang là ? Brien Pierce, một anh em Đa Minh, người Mỹ, đang viết một cuốn sách so sánh tư tưởng của Tôn sư Eckhart, một nhà thần bí Đa Minh thế kỷ XVI, với tư tưởng của Thích Nhất Hạnh, một Hoà thượng Phật giáo thế kỷ XX. Đối với cả hai vị, điểm khởi đầu của đời sống chiêm niệm chính là khoảnh khắc hiện tại, đây là điều các Phật tử gọi là “ý thức”. Chỉ có giây phút hiện tại mới là thực hữu. Chính trong giây phút này đây mà tôi đang sống, và do đó chính trong giây phút này đây mà tôi có thể gặp gỡ Thiên Chúa. Tôi cần phải đạt được sự thanh thản để thôi không còn lo âu về quá khứ và tương lai nữa. Hiện tại là khoảnh khắc mà trong đó cái vĩnh cửu bắt đầu lên ngôi. Eckhart hỏi : “Ngày hôm nay, nó là cái gì thế ?” Và ông trả lời : “Là vĩnh cửu”.

Nghệ thuật sống một mình

Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu thấu hiểu và ôm choàng lấy khoảnh khắc hiện tại. Thay vì lo lắng về những việc Giuđa đã làm hay việc quân lính sắp tới gần, Đức Giêsu đã sống khoảnh khắc hiện tại. Người cầm lấy bánh, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói : “Đây là mình Thầy hiến tế vì anh em”. Mỗi lần cử hành Thánh Thể là mỗi lần dìm chúng ta vào trong cái hiện tại vĩnh cửu này. Chính trong khoảnh khắc này, tôi có thể hiện diện với một người khác, thanh thản và lặng lẽ trong sự hiện diện của người ấy. Tôi bận rộn quá, cứ tất cả ngược xuôi, cứ mải suy nghĩ đến những gì sẽ diễn ra sau đó, đến nỗi tôi chẳng còn khả năng để nhìn thấy khuôn mặt đang đối diện với tôi, không còn nhìn thấy vẻ đẹp cũng như những thương tích, nhìn thấy niềm vui và những khổ đau của khuôn mặt ấy nữa. Như thế, sự thanh khiết sẽ giúp cho đôi mắt của tôi được mở rộng !
Kế đến, tôi có thể học nghệ thuật sống một mình. Tôi không thể sống hạnh phúc với những người khác trừ phi tôi có khả năng để sống một mình. Nỗi cô đơn khiến cho tôi khiếp sợ, vì vậy khi tôi ôm ấp những người khác vào lòng thì không phải vởi vì tôi vui thú cùng với họ, nhưng như thể một giải pháp cho vấn đề của tôi. Tôi coi những người khác như một phương tiện để lấp đầy sự trống rỗng và nỗi cô đơn khủng khiếp của tôi. Như thế, tôi không thể hoan lạc cùng với họ vì thiện hảo riêng của họ. Và như vậy, khi ta hiện diện với một người khác, thì đây phải là một cuộc hiện diện thực sự, và khi ta sống một mình, thì vấn đề quan trọng là phải học để biết yêu mến sự cô đơn. Nếu khác đi, thi khi ta hiện diện với một người khác, ta sẽ bám chặt lấy người ấy cho đến khi làm cho người ấy chết ngạt !
Cuối cùng, tất cả mọi xã hội đều sống với câu chuyện của mình. Xã hội chúng ta có những câu chuyện truyền thống riêng của nó. Đó thường là những câu chuyện lãng mạn : một chàng gặp một một nàng (hay đôi khi một chàng gặp một chàng !). Hai người phải lòng nhau và sống hạnh phúc bên nhau. Đó là một câu chuyện đẹp, thường xảy ra. Nhưng nếu chúng ta nghĩ rằng trong cuộc tình đó, chỉ có một phiên bản khả thể duy nhất như thế mà thôi, thì chúng ta đang sống với những khả thể rất giới hạn. Trí tưởng tượng của chúng ta cần phải được nuôi dưỡng bằng những phiên bản khác nữa, vì những câu chuyện này có khả năng nói cho chúng ta biết các cách thể để sống và yêu thương. Khi đứng trước những người trẻ, chúng ta cần phải biểu lộ những cách thế vô cùng đa dạng để có thể gặp gỡ tình yêu của họ và đem lại cho tình yêu ấy một ý nghĩa. Chính vì lẽ ấy, cuộc đời các vị thánh là quan trọng vô cùng. Cuộc đời của các vị cho chúng ta thấy có biết bao nhiêu là cách sống anh hùng, dù là người lập gia đình hay là người sống độc thân, dù là tu sĩ hay giáo dân. Một bản tự truyện đã đánh động tôi rất nhiều, đó là bản tự truyện của Nelson Mandela, The Long Road to Freedom. Đây là một con người đã dành trọn cuộc đời mình vì công lý và làm cho chủ nghĩa Apartheid sụp đổ, và điều này càng có ý nghĩa khi ông không được sống cuộc đời hôn nhân mà ông đã rất khao khát, và vẫn còn khao khát trong suốt những năm tháng bị cầm tù. Như thế, bước đi đầu tiên tiến đến sự thanh khiết, đó là đặt chân xuống bước đi trên mặt đất này. Tôi sẽ nói đến hai bước khác ngay đây.

Chia sẻ tình yêu của chúng ta

Giai đoạn thứ hai, rất sơ lược, cốt ở chỗ mở tình yêu của chúng ta cho rộng ra, đến nỗi tình yêu không còn ở lì trong cái thế giới bé nhỏ riêng tư mà tình yêu tìm được chỗ ẩn náu ở đó. Tình yêu của Đức Giêsu đã được mở ra khi Người cầm lấy bánh, bẻ ra ngõ hầu chính bản thân Người có thể được chia sẻ. Khi chúng ta khám phá ra tình yêu, chúng ta không nên giữ kín tình yêu ấy trong cái tủ bé nhỏ riêng tư trong hốc tường để khoái lạc một mình, cứ tựa như một chai Whisky được cất giấu vụng trộm để uống mảnh. Cần phải mờ rộng tình yêu này với những người khác, chia sẻ với họ và làm cho họ được lợi từ tình yêu ấy. Chúng ta phải chia sẻ tình yêu của chúng ta với các bằng hữu của chúng ta, và các bằng hữu của chúng ta với những người mà chúng ta thương mến. Như vậy, một tình yêu riêng tư sẽ trở thành một tình yêu rộng lớn hơn. Một tình yêu phổ quát.
Vượt trên tất cả, trong mọi thứ tình yêu, chúng ta đều có thể mở ra một không gian cho Thiên Chúa để Người cư ngụ tại đó. Chính mầu nhiệm tình yêu là Thiên Chúa có thể sống trong mọi tình yêu riêng tư. Khi chúng ta yêu thương sâu xa một ai đó, thì Thiên Chúa đã hiện diện nếu, ít ra, chúng ta biết nhìn ra Người trong tình yêu này. Đúng hơn, hãy coi những tình yêu của chúng ta như thể đang tranh đua với Thiên Chúa, chúng ta cần ý thức rằng tình yêu của chúng ta phải dành cho Thiên Chúa một khoảng không để Người có thể cắm lều cư ngụ tại đây. Như Bède Jarrett đã nói điều này với Hubert van Zeller : “Nếu anh cứ nghĩ rằng một điều duy nhất phải làm là sống thu mình trong cái vỏ sò của chính mình, anh sẽ chẳng bao giờ thấy được Thiên Chúa đáng yêu như thế nào đâu. Anh phải yêu thương P. và tìm kiếm Thiên Chúa trong P (…). Hãy đánh giá cao tình bạn của anh, hãy trả giá cho tình bạn ấy bằng nỗi khổ của anh, hãy nhớ đến tình bạn ấy trong thánh lễ của anh, và nên luôn có một người thứ ba. Phần mở đầu tác phẩm Tình bạn thiêng liêng của Aelfred de Rievaulx viết như sau : ‘Chúng ta đây, anh và em, và anh hy vọng rằng giữa hai chúng ta, Đức Kitô là người thứ ba’. Thật tuyệt vời phải không ? Nếu anh chạy trốn tình yêu, thì anh sẽ chẳng bao giờ thấu hiểu được Thiên Chúa đáng yêu dường nào. Nhưng nếu anh không để cho Thiên Chúa bước vào trong cuộc tình này và dâng tặng Người tình yêu ấy, thì anh cũng không thể nào hiểu biết được mầu nhiệm của tình yêu này. Nếu chúng ta tách tình yêu của chúng ta ra khỏi Thiên Chúa, cũng như ra khỏi những người khác, thì cả hai sẽ đầy tràn nỗi cay đắng và sẽ trở thành không lành mạnh. Đây chính là ý nghĩa của việc sống đời lứa đôi’”.
Giai đoạn thứ ba, có lẽ là giai đoạn khó khăn nhất, đó là tình yêu của chúng ta phải đem lại tự do cho con người. Tất cả mọi thứ tình yêu, cho dù là tình yêu của những người sống độc thân, phải là một tình yêu mang tính giải phóng. Tình yêu của người chồng và của người vợ phải mở ra những không gian tự do rộng rãi và, đối với chúng ta là những linh mục hay tu sĩ, thì điều này lại còn đúng hơn nữa. Chúng ta phải yêu thương mọi người đến độ họ được tự do để yêu thương những người khác nhiều hơn chúng ta. Thánh Augustinô gọi vị giám mục là người bạn của chàng rể, amicus sponsi. Trong tiếng Anh, trong một hôn lễ, chúng ta vẫn thường nói đến best man (người phù rể). Người “đàn ông nổi nhất” này không cố gắng lôi kéo tình yêu của cô dâu, và thậm chí cũng chẳng phải để lôi kéo tình yêu của các cô phù dâu ! Chàng phù rể này lôi hướng về một người khác.
Ngày kia, một người anh em Đa Minh người Pháp đã so sánh Thiên Chúa với một quí ông (gentleman) người Anh vô cùng nhã nhặn đến nỗi ông tuyệt nhiên không bao giờ muốn áp đặt lên những người mình thương yêu. Ông ngoảnh mặt đi không nhìn vào chỗ cánh cửa hé mở để bảo đảm rằng tất cả những biểu hiện tình cảm yêu thương của họ sẽ diễn tiến thật tốt đẹp, rồi sau đó, ngay cả khi ông rất muốn ở lại đây, ông đã biến mất để lại họ chỉ còn hai người với nhau thôi. C. S. Lewis diễn tả điều này cách khác : “Một trong những đặc quyền của Thiên Chúa là luôn luôn ít được yêu hơn là yêu”. Thiên Chúa luôn luôn là Đấng yêu thương hơn là được yêu thương. Đó cũng có thể là ơn gọi của chúng ta như Auden đã viết : “Nếu tình yêu đồng đều là không thể có, người yêu nhiều hơn ắt phải là tôi1.
Điều đó giả thiết là phải làm như thế nào đó để không chiếm lấy trung tâm đời sống của những người khác và không biến họ trở thành những người lệ thuộc chúng ta. Chúng ta phải không ngừng nỗ lực cống hiến cho họ những nâng đỡ và trợ giúp khác, ngõ hầu chúng ta càng ngày càng trở nên ít quan trọng hơn đối với họ. Điều này muốn nói rằng có thể có một vấn nạn luôn được đặt ra : liệu tình yêu của tôi có làm cho người tôi yêu trở nên mạnh mẽ hơn, độc lập hơn, hay nó lại làm cho người này trở nên yếu nhược hơn, lệ thuộc nhiều hơn ?
Thôi, đủ rồi ! Tôi phải dừng thôi, nhưng tất nhiên là sau suy nghĩ cuối cùng này. Học yêu để biết yêu thương là một tiến trình đầy nguy hiểm. Chúng ta chẳng biết được tiến trình này có thể đưa chúng ta đi đến đâu. Chúng ta sắp khám phá thấy một sự đảo lộn toàn thể cuộc đời chúng ta. Khi điều đó xảy ra chắc rằng đôi lúc chúng ta có bị tổn thương đấy. Có một trái tim bằng đá thì dễ hơn là có một trái tim bằng thịt nhiều, nhưng trong trường hợp này có thể nói được là chúng ta đã chết rồi ! Một khi đã chết, thì chúng ta chẳng còn có thể nói về Thiên Chúa hằng sống được. Nhưng phải sống cái chết và sự phục sinh này như thế nào đây ?
Mỗi lần cử hành Thánh Thể, chúng ta nên nhớ rằng Đức Giêsu đã đổ máu mình ra để thứ tha tội lỗi. Điều đó không muốn nói là Người phải làm nguôi cơn lôi đình của Thiên Chúa ; thậm chí điều đó không chỉ muốn nói rằng nếu chúng ta phạm phải lỗi lầm thì đi xưng thú và được tha thứ là đủ rồi đâu. Quả là có muốn nói đến điều đó, nhưng còn hơn thế nữa. Điều muốn nói là, trong tất cả mọi cuộc vật lộn của chúng ta nhằm trở thành những con người sống động và biết yêu thương, thì Thiên Chúa luôn ở với chúng ta. Ân sủng của Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta trong những giờ phút thất bại và bối rối, để nâng đỡ và vực chúng ta đứng dậy. Chẳng khác nào như, ngày Chúa Nhật phục sinh, Thiên Chúa đã biến đổi ngày Thứ sáu Tuần Thánh trở thành một ngày chúc phúc, chúng ta có thể tin tưởng rằng tất cả mọi nỗ lực yêu thương của chúng ta sẽ đơm bông kết trái. Như thế chẳng còn lý do để chúng ta sợ hãi ! Chúng ta có thể gieo mình vào cuộc mạo hiểm hướng đến cái chưa biết với niềm tín thác và can đảm.



1 If equal affection cannot be, Let the more loving one be me. “The more loving One”, Collected Shorter Poems : 1927-1957, London, 1966, p. 282.

 

Aucun commentaire: