Người
ta yêu cầu tôi hôm này nói về “những thách đố đối
với việc lãnh đạo trong đời tu”. Tuy từ ngữ “thuật
lãnh đạo” là một từ gốc gác tiếng Anh, nhưng tôi
vẫn không thích. Tôi thấy trong Hội Thánh, chỉ có một
vị lãnh đạo là Đức Giêsu Kitô, còn những người
khác, nhất là chúng ta ở đây, nam cũng như nữ, chúng ta
đều là những người môn đệ. Còn đối với tu sĩ nam
nữ, tôi cho đây là một cách để tránh từ vựng cổ
điển vẫn được dùng để chỉ về “các bề trên”,
vì nói đến bề trên thì cũng hàm ý có “những người
bề dưới”.
Mỗi
năm, Hội nghị các bề trên thượng cấp Ái nhĩ lan soạn
ra một bản phân tích về ngân sách chính phủ ; việc
ngồi phân tích phê bình thường là vất vả. Chính phủ
vẫn giao động. Sau cùng, ông Thủ Tướng tuyên bố rằng
ông không thể đánh giá thực nghiêm túc một thể chế
cho mình vừa là bên trên lại vừa là thượng cấp. Vì
thế, nhóm này đã lấy tên là Hội Đồng dòng tu. Những
hình như đâu đâu người ta cũng sử dụng từ ngữ “lãnh
đạo” ; do đó, với lòng khiêm tốn rất mực Đa Minh,
tôi xin chấp thuận dùng từ này !
Tôi
xin trình bày vấn đề với anh chị em xuyên qua dụ ngôn
người con phung phá. Như thế có vẻ hơi xa lạ vì mối
liên hệ của dụ ngôn ấy với việc lãnh đạo không
hiển nhiên, rõ rệt. Nếu tôi khởi đi từ bản văn này,
đó là vì chúng ta quá dễ có khuynh hướng nghĩ đến
việc lãnh đạo bằng những từ ngữ quản lý, quản trị.
Thế giới buôn bán dịch vụ thống lãnh trí tưởng tượng
của chúng ta. Trong một bữa ăn tối, cách đây hai hoặc
ba năm, tôi ngồi cạnh ông phó chưởng ấn của đại học
Cambridge. Ông khó có thể hình dung những gì tôi đã chế
tạo được trong chín năm tôi làm Tổng Quyền của Dòng.
Cuối cùng, vẻ mặt ông rạng rỡ : “À, tôi hiểu ra rồi
! Cha đã là một p.-d.g. đa quốc gia. Làm thế nào các ông
Đa Minh có thể cạnh tranh với các ông Phan Sinh trên thị
trường ơn gọi ?”.
“Sung
vào việc phục vụ ân sủng”
Trong
các sách Tin Mừng, khuôn mẫu Đức Giêsu cống hiến cho
chúng ta là khuôn mẫu của việc phục vụ. Và đó là
điều cơ bản. Đây Đức ông Ken Untener tiếp đón những
con người đến nhà của của ông như thế này : “Chào
nhá. Tôi tên là Ken và tôi sẽ là người phục vụ của
anh em”. Đúng đấy, nhưng mà là loại người phục vụ
nào ? Những người giáo dân thường vui khi nghe chúng ta
nói rằng chúng ta được mời gọi để làm những người
phục vụ, những người tôi tớ. Nhưng họ vẫn có phần
ngạc nhiên khi thấy rằng thực ra chính chúng ta đang nói
để bảo họ làm cái này cái nọ. Nói đến đây, tôi
nhớ đến vị giám mục người Ái nhĩ lan từng loan báo,
khi về tới tòa của mình, rằng ông sẽ phục vụ giáo
phận bằng một bàn tay sắt.
Tôi
theo nguyên tắc là việc lãnh đạo của Kitô giáo là công
việc phục vụ ân sủng của Thiên Chúa. Chúng ta phục vụ
con người bằng việc phục vụ sự xuất hiện bất ngờ
của ân sủng. Cornelius Ernst là một người Đa Minh đã
ảnh hưởng nhiều đối với tôi. Cha của anh là một
Kitô hữu người Hòa Lan còn mẹ của anh là một Phật tử
gốc Sri Lanka. Anh đã hiến dâng cuộc đời cho cuộc gặp
gỡ giữa Đông với Tây và đã viết một tác phẩm kỳ
diệu về ân sủng. Theo anh, ân sủng không phải là một
điều gì đó, một cái gì đó, một bản thê. Đó là sự
xuất hiện bất ngờ của Thiên Chúa trong cuộc đời
chúng ta. Anh gọi đó là “khoảnh
khắc sản sinh”.
Nơi bông hoa, điều kỳ diệu không phải là sự kiện
bông hoa hiện hữu, bông hoa có đấy, nhưng chính là sự
nở ra, là hành vi triển nở. Anh viết : “Mỗi khoảnh
khắc sản sinh là một mầu nhiệm. Đó là buổi bình
minh, là sự khám phá, là mùa xuân, là sự chào đời, là
sự đâm chồi nảy lộc, là sự bừng tỉnh, là sự siêu
việt, là giải phóng, là sự xuất thần, là tiếng ưng
thuận của đôi vợ chồng, là quà tặng, là sự tha thứ,
là hòa giải, là sự luân chuyển, là niềm tin, là niềm
hy vọng, là lòng mến. Nói được rằng Kitô giáo là sức
mạnh biến đổi tất cả và canh tân vạn sự : Này đây
ta làm cho mọi sự thành mới” (Kh 21,5).
Dụ
ngôn người con phung phá (Lc 15,11-32)
Mỗi
một dụ ngôn và mỗi một chi tiết tưởng như rắc rối
của sách Tin Mừng đều giúp khai thác sự xuất hiện của
ân sủng. Tôi không dám dùng câu chuyện người phụ nữ
bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình bởi vì trong cảnh
tượng ấy, Đức Giêsu đưa ra một chứng minh đẹp về
cách thế giúp sinh động một buổi họp bằng cách hòa
mình với những người tham dự không mấy dễ tính. Tốt
hơn chúng ta xem dụ ngôn người con phung phá dẫn đưa
chúng ta đi tới đâu.
“Một
người có hai cậu con trai. Cậu bé nói với cha : ‘Thưa
cha, xin cho con phần gia tài thuộc về con’. Và người
cha chia phần của cải của ông. Ít ngày sau, cậu bé thu
quén tất cả những gì cậu có, và lên đường đến một
xứ xa xôi, ở đó cậu phung phí phần sản nghiệp của
mình khi sống một cuộc đời vô trật tự”.
Nghe
những chữ đầu tiên – một người có hai cậu con trai
– anh chị em rất có thể ngờ rằng khuôn mẫu của
thuật lãnh đạo được đề ra sẽ là người cha. Các vị
bề trên hết còn hợp thời nhưng những ông bố tốt
lành thì lại “lạnh”. Nhưng thực ra, để thực sự đi
vào dụ ngôn, cần phải đặt mình vào mỗi một nhân
vật. Chúng ta là người cha nhưng cũng là hai cậu con trai
và những người đầy tớ, nhưng có lẽ con bê béo là
đáng để ý nhất ! Sự xuất hiện của ân sủng trong
trình thuật này đòi hỏi sự có mặt của mỗi một
trong các nhân vật trên.
Có
tinh thần lãnh đạo tức là từ chối để cho mình bị
giam hãm trong một định nghĩa hẹp hòi về vai trò của
mình. Chúng ta có mặt ở đó để làm tất cả những gì
cần thiết cho ân sủng có thể bất ngờ xuất hiện. Nếu
chúng ta nhấn mạnh về việc chúng ta nắm giữ những
chức năng đã có sẵn, mọi việc có thể khựng lại.
“Đấy không phải là việc của tôi”. Khi tôi còn làm
tuyên úy ở trường Trung học hoàng gia, tôi đi gặp một
người theo Anh giáo khả kính, tên là Ivor Smith Cameron, để
xin ông điều tôi nghĩ là phải làm. “Cha có bằng lòng
đi rông với chủ ý là phạm một tội ác không ?, ông đã
trả lời tôi như thế. Tất cả những người khác ở cư
xá sinh viên đều có những phận vụ rõ rệt, từ ông
tổng giám hiệu cho tới những người có trách nhiệm về
công việc. Vị tuyên úy có mặt ở đó để làm những
gì có thể xem ra là cần thiết. Một anh Đa Minh người
Pháp đến ở lại Oxford để học tiếng Bengal trước khi
đi phục vụ những người nghèo nhất trong số những
người nghèo. Khi tôi hỏi xem anh sắp làm gì, anh đã trả
lời rằng chính họ, những người nghèo, sẽ nói cho anh
biết anh phải làm gì.
Có
hôm một anh Đa Minh đáng kính người Mỹ đến ở lại
tu viện “Blackfriars”, ở Oxford. Người anh em mở cổng
cho anh vừa lau nhà xong thì, một cách đường bệ, vị
khách kia ném cho anh câu hỏi : “Này anh, mang cho tôi một
tách trà”. Người anh em ấy đi lấy trà. “Rồi, bây
giờ, người Mỹ kia nói, dẫn tôi lên phòng của tôi”.
Người anh em kia lại vội vàng tuân theo. Sau cùng, vị
khách mới hỏi : “Giờ tôi muốn chào Cha tu viện trưởng
một cái, dẫn tôi đến phòng cha ấy. – Dạ, con là tu
viện trưởng đây”, người anh em kia thưa một cách đơn
sơ. Vị tu viện trưởng ấy chính là nhà thần học
Fergus Kerr !
Cậu
bé nói với cha : ‘Thưa cha, xin cho con phần gia tài thuộc
về con’. Và
người cha chia phần của cải của ông”.
Dụ
ngôn nói về sự mất hiệp nhất của gia đình và sự
phục hồi như thế nào. Đó chính là kết quả của ân
sủng và là trách nhiệm đầu tiên của việc lãnh đạo.
Thánh Phaolô viết cho tín hữu Êphêxô : “Ơn
gọi của anh em đã mời gọi hết thảy anh em đến chỉ
một niềm hy vọng như thế nào, thì cũng chỉ có một
thân thể duy nhất và một Thần Khí duy nhất như thế.
Chỉ có một một Chúa, chỉ có một đức tin, chỉ có
một phép rửa, chỉ có một Thiên Chúa và là Cha của hết
thảy mọi người, Đấng cai trị trên hết thảy mọi
người, qua hết thảy mọi người và trong hết thảy mọi
người” (Ep
4,5). Ân sủng bao trùm lấy cả sự chia rẽ. Cho nên, bổn
phận thứ nhất của anh chị em, với tư cách là những
người lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo, chắc chắn hệ
tại việc nuôi dưỡng sự hiệp nhất trong chính các cộng
đoàn của anh chị em cũng như sự hiệp nhất giữa các
cộng đoàn với Hội Thánh phổ quát.
Hòa
giải chân lý với sự hiệp nhất
Nhưng
làm thế nào hòa giải điều đó một cách chân thành ?
Chân lý và sự hiệp nhất có thể ở trong tình trạng
căng thẳng. Xin cho tôi chia sẻ với anh chị em một kinh
nghiệm riêng tư. Làm Tổng Quyền của Dòng anh em giảng
thuyết, công việc thứ nhất của tôi hệ tại việc bảo
đảm sự hiệp nhất của Dòng bởi vì ta không thể giảng
thuyết Tin Mừng mà lại chia năm xẻ bảy được. Vì thế,
cần phải dàn xếp những căng thẳng giữa tả với hữu,
giữa những người trẻ với những người già, giữa thế
giới thứ nhất với thế giới thứ ba.
Khác
với phần lớn các Dòng khác, chúng tôi luôn luôn cố
gắng bảo toàn sự hiệp nhất, không giống như nhiều
Dòng khác mà vì lịch sự tôi không được phép nêu tên
! Nhưng Dòng này lại có khẩu hiệu là “Veritas”,
chân lý. Tổng Quyền có bổn phận phục vụ Dòng bằng
cách mạnh dạn rao giảng chân lý. Nhưng làm thế nào để
công bố chân lý với sự dạn dĩ mà anh em không bị chia
rẽ ? Và làm thế nào để sống hiệp nhất mà không phải
đi vòng vèo qua hết ngõ này đến ngóc ngách kia ? Đó là
lưỡng đạo luận của phần lớn các cộng đoàn ngày
nay. Nếu anh chị em rao giảng chân lý cách dạn dĩ, anh
chị em sẽ phải đành chịu thất bại.
Dụ
ngôn cho chúng ta một số chỉ dấu. Trước hết, chẳng
có gì cho thấy là người cha kia làm kịch. Ông cụ chẳng
có sụp xuống dưới chân cậu bé để van vỉ cậu chịu
khó ở lại nhà ; ông lại càng không hăm dọa. Cuộc sống
vẫn bình lặng trôi. Các tu sĩ chúng ta là những người
có tài kịch hóa vấn đề, kể từ thời có bất đồng
giữa ông Phêrô với ông Phaolô cho tới hôm nay. Tôi biết
điều ấy. Tôi đã sống chín năm ở Italia, và có lẽ
đôi khi ta đã ngỡ mình đang xem một vở nhạc kịch của
Puccini ! Nhưng nếu chúng ta phục vụ ân sủng của Thiên
Chúa, thì chỉ có vở kịch duy nhất đã diễn ra. “Đức
Kitô đã chết, Đức Kitô đã phục sinh, Đức Kitô sẽ
lại đến”.
Một trong những cách thế để giữ cho chân lý và sự
hiệp nhất gắn kết với nhau, đó là sống vì tấn kịch
cơ bản của ân sủng ấy hơn là đổ dầu vào tia lửa
nhỏ để làm cho mọi cái đầu nóng thêm. Như Dietrich
Bonhoeffer từng viết cho giám mục Bell, ngay trước khi ông
bị Đức quốc xã sát hại, chiến thắng là chắc chắn.
Để
tôi kể cho anh chị em một câu chuyện khác thời cha
Fergus Kerr làm tu viện trưởng Oxford. Khi tôi còn là một
sinh viên Đa Minh trẻ ở tu viện Blackfriars, phòng tu viện
trưởng bị một nhóm theo cánh hữu tấn công, nhóm cánh
hữu này muốn công kích sự dấn thân của nhóm cánh tả.
Hai lần giữa đêm hôm khuya khuắt, người ta ném những
túi thuốc nổ nhỏ gây ra nhiều tiếng ồn ào náo động
và làm cho cửa kính vỡ loảng xoảng. Tất cả cộng đoàn
thức dậy hết, trừ tu viện trưởng. Tôi thích thú khi
thấy anh em người thì còn mặc pyjama, quần soọc đánh
bốc … túa ra ! Cảnh sát và lính cứu hỏa đã tới. Sau
cùng, tôi đi đánh thức tu viện trưởng. “Thưa cha
Fergus, tu viện ta bị tấn công, xin cha dậy mau. – Có ai
chết không ? – Thưa không. – Có ai bị thương không ? –
Thưa không – Thế thì tốt. Này, để tôi ngủ và sáng
mai chúng ta lại nói chuyện ấy sớm nhá.” Đấy là bài
học vỡ lòng về thuật lãnh đạo tôi đã được học !
Ra
như người cha cứ để cho tấn kịch diễn ra. Không phải
do ông cụ tính tình thụ động, nhưng do lòng ông tin
tưởng, như thể ông thấy trước thế nào đứa con trai
của ông cũng lại trở về nhà. Ông sẽ mở mắt cho lớn
để nhận thấy cậu bé còn ở đằng xa, đang trên đường
về. Ông phải để ý.
Chống
lại thứ văn hóa kiểm soát
Người
ta gọi văn hóa của xã hội của chúng ta là “văn hóa
kiểm soát”, thế nhưng chúng ta dường như lúc này lúc
khác cũng kiểm soát những gì đang diễn ra. Chúng ta đang
sống trong cái Anthony Giddens gọi là “thế giới đang
trốn chạy”, “một khu rừng rậm được tạo nên bởi
đủ mọi thứ”. Trong thế giới đang trốn chạy của
chúng ta, chúng ta tìm kiếm sự an toàn, những chỉ dẫn
chính xác và không mơ hồ để giữ nước làm sao cho
chúng ta đừng bị chìm. Ở đó không được có bất kỳ
nguy cơ nào và, nếu như có xảy ra chuyện gì, người ta
không đươc trách cứ hoặc truy đuổi tôi. Từ đó, chúng
ta có sự ám ảnh nực cười liên quan đến những biện
pháp để giữ gìn sức khỏe và để được an toàn. Tôi
đã nghe nói đến những chiếc máy giặt có mang nhãn hiệu
dặn “không được cho các em bé hoặc súc vật đàn vào”
Việc
lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo phải chống lại thứ
văn hóa kiểm soát, Hội Thánh công giáo đã sống cách
khốn khổ một sự lệ thuộc thực sự đối với việc
đó. Những con nước hỗn mang vùi giập chúng ta ngày thứ
Sáu tuần thánh, rồi đến sáng ngày Vượt Qua, những
người phụ nữ đã nghe thấy vị thiên sứ bảo họ :
“Chị em đừng
sợ”. Nhưng
theo thánh Máccô, như đã xảy ra trường hợp của nhiều
người lãnh đạo dòng tu, các bà không nói gì cả vì các
bà sợ.
Người
cha để cho những biến cố cứ diễn ra ngay cả khi ông
không biết những biến cố ấy sẽ kết thúc ở chỗ
nào. Đấy, thuật lãnh đạo, không cần biết trước tình
cảnh sẽ chuyển biến như thế nào. Nhưng đấy cũng là
không sợ hãi, cho dù hỗn mang có gầm gừ đe dọa đến
đâu. “Đức
Kitô đã chết, Đức Kitô đã phục sinh, Đức Kitô sẽ
lại đến”.
“Nghệ
thuật chết đi để cho tương lai mở ra”
Đứa
con phung phá nhìn thấy trước tương lai. Theo Henri Nouwen,
cậu ấy nói với cha : “Con không thể chờ đến khi cha
chết được !”. Con muốn tương lai ngay lập tức. Đó
không phải là cách hay để tiến hành công việc và cậu
sau này sẽ phải sửa chữa lại những chiếc bình đã bị
vỡ, nhưng thuật lãnh đạo để cho tương lai cứ diễn
ra ngay cả khi điều đó làm cho chúng ta phải đi vào
trong chỗ không còn được biết đến nữa. Điều đó
cũng có nghĩa là để cho những gì hiện đang có chết
đi, hầu một cái gì khác có thể đến. Ân sủng của
Thiên Chúa, chính là sự ập đến của tương lai, và như
thế có nghĩa là hiện tại phải chết đi. Các giáo phận
và các dòng tu thường quá ưu tư về quá khứ và chúng
ta dính chặt vào đó vì các bề trên tổng quyền hoặc
giám tỉnh không muốn vượt qua lịch sử để khép lại
cái thể chế quí báu ấy.
Tôi
nhớ một bài giảng của một vị Giám tỉnh vốn là một
người theo Presbyterien ở Ecosse, nhân lễ khấn trọng. Bài
giảng dữ dội nhưng cuốn hút. Cha nói : “Tôi đang đi
tới hồi kết cuộc đời tu trì của tôi, còn anh em thì
đang bắt đầu đời tu của anh em. Khi nghĩ lại những gì
là đời tu của tôi, đã kéo dài lâu, tôi nhìn lại tất
cả những gì mình đã làm để kiến tạo và trợ giúp.
Thường tôi đã làm việc cật lực để xây dựng một
cái gì đó, để lưu lại một công trình sau lưng tôi, và
rồi một thằng điên đã nổi lên, nhân danh sự tiến
bộ, phá hủy hết tất cả những gì tôi đã làm được.
Vậy, tôi cho anh em một lời khuyên : cho dẫu các chương
trình kế hoạch anh em ấp ủ có là gì đi nữa, cho dẫu
những dự án anh em đã chuẩn bị là thế nào đi nữa,
xin anh em hãy chắc một điều : Thiên Chúa sẽ làm cho
hỏng hết !”
Vì
không có cơ hội để làm một người thuộc phái
Presbyterien xứ Ecosse, nên tôi không nói được đúng như
thế, nhưng sự kiện là thuật lãnh đạo bao gồm ars
moriendi, nghệ
thuật chết, để cho tương lai mở ra. Đó là sáng tạo
nên một không gian cho những người trẻ để họ có thể
làm những gì chúng ta không thể làm, không thể đoán
trước, chẳng thể tưởng tượng được, buông hiện tại
ra, thêm một chút nghi ngờ bất chợt vào món nước chấm.
Nếu chúng ta không thể phác họa ra cái chết của những
thể chế của chúng ta thì chúng ta sẽ phác họa ra cái
chết của chính chúng ta như thế nào ? Chúng ta sẽ chỉ
thực sự giảng thuyết sự phục sinh nếu như người ta
thấy chúng ta đối diện với cái chết một cách can đảm.
Hôm qua, tôi đã nói với anh chị em về lần tôi đi thăm
đan viện sắp đóng cửa và lời của vị cựu giám tình
: “Người còn để cho Con của Người chết nữa kìa !
Đúng không ?”.
Nhưng
chúng ta tiến lên hơn một chút trình thuật của chúng
ta.
“Khi
cậu đã tiêu hết sạch, thì một nạn đói khủng khiếp
xảy ra trong miền ấy, và cậu bắt đầu lâm cảnh khốn
cùng. Cậu đi làm mướn cho một người trong xứ, người
ấy sai cậu ra đồng chăn lợn. Cậu rất muốn lấy rau
cho lợn ăn mà tống cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho.
Bấy giờ, cậu nghĩ : ‘Bao người làm công ở nhà cha
mình có bánh ăn dư dật, còn mình ở đây, mình đang chết
đói ! Mình sẽ giở về nhà cha mình, và sẽ thưa với
ông cụ : Thưa cha, con đã phạm tội với trời và với
cha. Con chẳng còn đáng được gọi là con trai của cha
nữa. Xin cha coi con như một trong những người làm công
của cha’. Thế là cậu ra đi để về nhà cha. Khi cậu
còn ở đàng xa, cha của cậu đã nhận ra cậu và động
lòng thương ; ông chạy tới ôm lấy cổ cậu và hôn cậu
tới tấp”.
Ở
đây, cả cậu con trai phung phá lẫn người cha đều là
chứng cứ cho thuật lãnh đạo hiểu theo nghĩa căn bản
nhất của từ này. Đức Kitô là Vị Lãnh Đạo của
chúng ta vì Người đi trước chúng ta để hiện diện nơi
Thiên Chúa. Theo thư gửi tín hữu Hípri, Người đã khai
mở cho chúng ta “một
con đường mới và sống động”
(10,20). Thuật lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo về căn
bản không hệ ở chuyện có những kế hoạch đầy tham
vọng đối với giáo xứ, ở chỗ chỉ lo có những quyết
định can đảm đáng mặt một ông chủ tịch công ty. Lại
càng không phải là nghĩ ra những chiến lược sáng chói
như một ông đại tướng vốn làm. Tất cả những chuyện
đó có mặt tốt của nó, nhưng thuật lãnh đạo theo tinh
thần Kitô giáo lại hệ tại trước hết ở chỗ là
người thứ nhất tiến lên, ở chỗ lên đường một
chút như cậu con trai phung phá lên đường gặp lại người
cha, và như cha của cậu chạy tới để đón cậu.
Thuật
lãnh đạo của người con trai và của người cha giả
thiết là mỗi người từ bỏ đi vị trí danh dự của
mình. Cậu con trai sẽ gặp cha khi từ bỏ vị trí danh dự
của người con, bằng lòng để được đối xử chỉ như
một người tôi tớ, còn người cha thì cởi bỏ phẩm vị
của bậc gia trưởng để băng qua cánh đồng, như một
đứa bé, mặc cho ai muốn cười nhạo cũng được. Một
cách triệt để hơn, chúng ta quan niệm thuật lãnh đạo
của người con là xin sự tha thứ, còn của người cha là
thậm chí chẳng đợi chẳng chờ lời nói xin tha.
“Tiến
lên một bước vào sự thương tổn”
Vai
trò chính yếu của người lãnh đạo theo tinh thần Kitô
giáo hệ tại tiến lên một bước vào sự thương tổn.
Chúng ta phải là những người đầu tiên để cho rơi
xuống mọi hình ảnh ưu thắng của phái nam, cởi bỏ đi
khiên giáp của chúng ta, đưa ra những lời xin lỗi, ý
thức rằng có thể người ta không thèm chúng ta. Chúng ta
phải là những người đầu tiên nói : “Đáng tiếc quá
!” cho dù chúng ta có cảm tưởng rõ ràng là người kia
đã gây ra nhiều sự đáng tiếc hơn là chúng ta đã làm
cho người ấy. Chúng ta phải tiến lên phía trước, phải
ra khỏi giao thông hào, liều để cho mình có thể bị
giễu cợt. Chúng ta không đợi những dấu hiệu bảo đảm
qua lại rồi mới bắt đầu động đậy.
Đức
giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã làm chuyện đó cách can đảm
trong những tương quan của người với đạo Hồi : Người
đã tìm tình bằng hữu, người đã xin xá lỗi, người
đã sẵn sàng để bị chối từ. Đó không phải là sự
cô đơn của một vị thủ lãnh vĩ đại : đó là tính
cách thương tổn của thánh giá. Như thế có nghĩa là
chúng ta phải là những người đầu tiên để cho rớt đi
vị trí danh dự của chúng ta. Tôi quen nói với các vị
giám tỉnh : “Nếu anh em để tâm lo lắng cho vị trí
danh dự của mình, thì những người anh em sẽ không có
cảm tưởng là họ phải lo lắng đến chuyện đó nữa.
Nhưng nếu anh em không quan tâm lo lắng về chuyện đó,
chính họ sẽ để tâm lo cho anh em”.
Hành
trình cậu con trai thực hiện trước hết không theo tính
cách địa dư. Khi lâm cảnh phải thèm thuồng những gì
lợn ăn, người ta bảo rằng “bấy giờ cậu trở về
với chính mình”. Cậu trở về với căn tính thâm sâu
của cậu, căn tính là người con trai của cha mình. Việc
quay về nhà cha của cậu không là gì khác hơn là biến
thành hành động con đường cậu đã rảo qua khi nhớ lại
rằng cậu là con của cha cậu. Đây mới là lần đầu
tiên cậu trở về nhà. Cậu không còn nhìn cha như là một
đối thủ, như kỳ đà cản mũi không cho cậu được
động tay vào tiền bạc nữa. Lần đầu tiên, cậu nhìn
cha mình như là một người hằng lo sao cho những người
làm việc cho mình có bánh ăn dư dật. Và cha của cậu
nhận ra cậu khi cậu còn ở đằng xa bởi vì ông cụ
không ngớt đợi chờ con người không có giây phút nào
thôi không còn là con của ông cụ nữa, bất kể đã có
chuyện gì xảy ra.
Giữ
cho có cái nhìn của Thiên Chúa về người khác
Ở
đây tôi hơi phải cố gắng để tìm từ ngữ diễn tả,
nhưng tôi cố gắng để anh chị em hiểu rằng thuật lãnh
đạo giả thiết ta phải nhìn những con người trong Đức
Kitô. Vô khối áp lực nặng nề vẫn ảnh hưởng đến
chúng ta khiến chúng ta nhìn những người khác như là
những đối thủ luôn đe dọa chúng ta, hoặc như là những
đồng minh hay những người cùng phe đảng hữu ích cho
chúng ta. Có một cám dỗ là chúng ta dễ dàng nhốt con
người ta vào những ô những loại và nhìn họ như là
những người tiến bộ nguy hiểm hoặc những người bảo
thủ cứ khư khư ôm chặt quá khứ. Các vị giám tỉnh
nam nữ chúng ta có thể bị cám dỗ coi anh chị em mình
như những con chốt để chuyển dịch trên bàn cờ tỉnh
dòng hoặc như những nan đề cần phải giải quyết.
George
Patrick Dwyer, tổng giám mục Birmingham, ở Anh quốc, có lần
ngồi cạnh một linh mục trong khi người ta đang dâng lễ
phẩm trong Thánh lễ ; một phụ nữ vừa mang lễ vật lên
bàn thờ vừa nhảy. Vị tổng giám mục quay sang nói với
ông linh mục : “Không biết bà ấy có xin cái đầu đặt
trên mâm không, nếu xin tôi sẽ cho”.
Khi
người cha nhận ra cậu con trai của mình còn ở đằng
xa, có lẽ ông bị cám dỗ coi cậu này như là một vấn
đề sẽ phải giải quyết. Lạy Chúa, chúng con sắp phải
làm gì cho tay này đây ? Thằng anh nó sắp phản ứng thế
nào ? Thằng này lại có chiêu gì mới nữa đây ? Phải
nó đã thất bại và con lại phải cho nó tiền nữa ?
Nhưng thay vì đó, ông cụ đã nhìn thấy một đứa con.
Đức con trai đang trở về nhà, nó lại là nó, tức là
nó vẫn là con của mình. Người cha không bao giờ quên
cậu. Thuật lãnh đạo hệ tại ở việc giữ cho mình
luôn có cái nhìn của Thiên Chúa về con người.
Có
lẽ cậu con trai cần phải vứt đi những gì anh ta đã
từng là trước khi có thể nhận lại căn tính của cậu,
lần đầu tiên cậu nhận một cách trọn vẹn và tự do.
Người anh cả của cậu chưa làm như thế bao giờ. Có lẽ
chúng ta phải để cho người ta – là những người anh
em và những người chị em của chúng ta, các linh mục,
các nhà thần học – có được cảm tưởng là đang đi
lan man ra ngoài, đang theo những thái độ có vẻ gây hấn,
đang đề ra những thần học hơi điên điên, đang đi vào
no man’s land,
miền đất không người, trong khi chúng ta kiên nhẫn chờ
đợi cho họ tiếp tục bước đi và họ quay được về
nhà, một cách tự do. Nếu chúng ta yêu quí sự tự do của
người ta, thì bấy giờ người ta có thể tự do bỏ Hội
Thánh những họ cũng có thể, một cách tự do, trở về
mái ấm khôn ngoan hơn và tốt hơn bội phần.
Cơn
cám dỗ đang rình rập Hội Thánh công giáo hẳn là gieo
rắc nỗi kinh hãi ngay khi ta chưa hoàn toàn nắm được
vấn đề trong tay ! Chúng ta sợ những nguy cơ và chúng ta
thiếu mất lòng tin tưởng. Khi thánh Đa Minh phái những
anh em trẻ nhất, những người vừa mới chân ướt chân
ráo vào Dòng, các thầy dòng Xitô đã cảnh giác thánh
nhân rằng làm như thế là thánh nhân đang đánh mất họ.
Thánh Đa Minh đã trả lời các thầy rằng : “Tôi chắc
chắn là các anh em trẻ của tôi sắp đi thì họ cũng sẽ
trở về ; người ta sắp phái họ đi và họ sẽ trở lại
; nhưng những anh em trẻ của quí thầy có giữ lại cũng
không được, họ sẽ đi ngay khi họ được lên đường”.
Lòng tin tưởng là cái nhân của thuật lãnh đạo.
“Khi
cậu con thứ còn ở đàng xa, cha của cậu đã nhận ra và
ông động lòng thương xót ; ông chạy đến ôm cổ cậu
và hôn liên hồi. Cậu con trai thưa với Cha : ‘Thưa cha,
con đã phạm tội với trời và với cha. Con chẳng còn
xứng đáng được gọi là con trai của cha nữa …’.
Nhưng người cha nói với gia nhân : ‘Mau đem áo đẹp
nhất mặc cho cậu. Đeo nhẫn vào ngón tay cho cậu và xỏ
dép vào chân cậu. Các anh đi bắt lấy con bê béo, giết
thịt ; chúng ta phải ăn mừng. Vì con trai của ta đã chết
mà nay trở về sống ; đã mất mà nay tìm lại được.
Và họ bắt đầu cuộc lễ”.
Họ
bắt đầu cuộc lễ. Hẳn đây là điểm căn bản của dụ
ngôn này. Nếu Đức Giêsu thuật lại dụ ngôn này, chính
là vì những người Pharisêu và các kinh sư đã xì xào về
Người : “Con người này tiếp đón những người tội
lỗi và ăn uống với họ”. Điểm chủ đạo của câu
chuyện, chính là lời người cha mời cậu con trai cả vào
mừng với mọi người : “Phải mở lễ cho lớn và phải
vui ; vì em trai của con đã chết mà nay trở về sống ;
đã mất mà nay tìm lại được !”.
Những
người lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo có lẽ phải mở
những cuộc lễ. Ai sẽ là người đầu tiên đến khai vị
trước bữa ăn tối ? Chúng ta phải là những người tìm
thấy niềm vui của mình trong cái mà những hữu thể nhân
linh là, cho đi là họ đang ở trong tình trạng rối ren
cách mấy. Những người lãnh đạo theo tinh thần Kitô
giáo là những bậc thầy của lễ lạc. Bước đầu của
việc giảng Tin Mừng đối với Đức Giêsu là một cuộc
lễ. Chúng ta có nói đến điểm luân lý trọng yếu cũng
chẳng ăn thua gì bao lâu người ta không tuyệt đối tin
chắc rằng Thiên Chúa đang vui vì cuộc đời của họ,
bởi vì cuộc đời ấy mở lối vào sự sống của Thiên
Chúa Ba Ngôi, sự vui thích của Chúa Cha nơi Chúa Con chính
là Chúa Thánh Thần : “Con là con yêu dấu của Ta, nơi
Con Ta đã đặt tất cả tình yêu của Ta”.
Giữ
gìn tinh thần ngày lễ
Gánh
nặng của công việc lãnh đạo có thể làm cho niềm vui
ngày lễ trở thành khó khăn. Chúng ta có thể đánh mất
niềm vui tự phát của người cha đang chạy vội chạy
vàng hướng đến thằng con trai vô lại của mình. Niềm
vui của Tin Mừng có thể chết ngạt bởi những gai góc
là những ưu tư lo lắng thuộc về thế gian này (Mc 4,18).
Tôi
rất thích những cuốn tiểu thuyết của Patrick O’Brian.
Nhân vật Stephen Maturin, anh chàng bác sĩ-điệp viên, tuyên
bố : “Cách sự vui vẻ biến mất thật lạ đời – có
lẽ chăng tôi nói hơi bi thảm ? Sự vui vẻ của tinh thần,
niềm vui hồn nhiên và lấp lánh. Quyền bính là kẻ thù
lớn của nó – việc sở hữu quyền hành. Tôi thấy hình
như ít người qua tuổi năm mươi mà vẫn thực sự là
những con người. Hầu như chẳng có ai hành sử lâu một
quyền bính cả. Đây, những vị chỉ huy đang lên khỏi
tàu. Thủy sư đô đốc Warne, Những con người nhăn nheo
(hỡi ôi, tôi nói về tâm hồn họ chứ không phải về
cái bụng của họ1)”.
Làm
thế nào giữ cho sự vui tươi hồn nhiên, đầy nét thanh
xuân thật sống động, chứ không nhăn nheo úa héo ? Không
muốn nói đến những cái bụng ! Có lẽ một phần nhờ
biết từ khước để cho cuộc đời trở thành bản sao
của những người khác. Các phương tiện thông tin và
cách thế thông tin của những phương tiện đó về sự
lành sự dữ ; các nhóm áp lực trong các hội thánh của
chúng ta đang muốn lôi kéo chúng ta vào những vụ việc
của họ ; những sự am hiểu và sự thận trọng của
những người khác, sự sợ hãi của họ về một sự lộn
xộn đổ vỡ có thể có và về một tương lai còn chưa
biết được. Người cha từ khước lo lắng thái quá về
những gì những người khác vẫn nghĩ. Ông không có cố
vấn thông tin bên cạnh để đánh giá xem báo chí liệu
sẽ bàn tán về tin này như thế nào. Chúng ta không nên
lo lắng mình sẽ bị người ta cắt nghĩa sai. Ân sủng
giúp chúng ta tham gia vào sự hồn nhiên của Đức Giêsu.
Ân sủng là sự hồn nhiên của Thiên Chúa.
Chúng
ta cũng phài dành cho người con trai cả một ít phút nữa
:
“Người
con trai cả bấy giờ đang ở ngoài đồng. Khi anh về gần
tới nhà thì nghe thấy tiếng ca nhạc và nhảy múa. Gọi
một gia nhân ra, anh hỏi xem có chuyện gì. Người này trả
lời : ‘Đấy là em trai của cậu vừa trở về. Và cha
của cậu đã giết con bê béo vì ông cụ thấy con trai
ông cụ trở về mạnh khỏe’. Bấy giờ người con trai
cả nổi giận, và không chịu vào. Cha của cậu đi ra năn
nỉ cậu. Nhưng cậu đáp lại : ‘Biết bao nhiêu năm tôi
phục vụ cha, chẳng bao giờ trái lệnh cha, thế mà chưa
bao giờ cha cho tôi lấy một con dê con để ăn tiệc với
bạn bè. Vậy mà khi thằng con trai của cha vừa về sau
khi đã tiêu tán của cải của cha với bọn con gái, cha
lại bảo giết mừng nó một con bê béo !” Người cha
đáp : ‘Con ơi, con luôn luôn ở với cha, và tất cả
những gì thuộc về cha là thuộc về con. Nhưng phải mở
tiệc lớn và phải vui mừng, vì em trai của con đó đã
chết, mà nay trở về sống ; nó đã mất, mà nay tìm lại
được !”
Tôi
thắc mắc không biết có dấu vết của người con trai cả
đang phục sẵn nơi mỗi người lãnh đạo theo tinh thần
Kitô giáo hay không. Nếu anh em được đặt vào một chức
năng có liên quan đến quyền bính, có lẽ anh em không
tiêu phí một cách rõ rệt tất cả của cải của anh em
với những cô gái điếm. Người ta đã chọn anh em có lẽ
vì anh em có cánh tay chắc, như người ta nói, điều này
giả thiết một quan niệm đúng là hơi ngạc nhiên về
thuật lãnh đạo. Ta cứ tưởng tượng xem, công tước
Edimbourg có cả một đoàn hoàng hậu. Thánh Augustinô, rốt
cuộc với một đứa con bất hợp pháp, ngày nay có lẽ
chẳng được đặt làm giám mục đâu !
Và
chẳng lẽ lại không mảy may ghen tị đối với người
con trai hoang đàng đã buông mình theo những giấc mơ quá
ư điên rồ, đến khi trở về lại được mặc áo đẹp
nhất ? Chẳng lẽ chúng ta không cảm thấy có một cái gì
đó thuộc về tình cảm của những người thợ đã làm
quần quật suốt ngày ở vườn nho, rồi phải chứng kiến
những người vào làm giờ sau cùng lại nhận được cũng
một tiền công như mình ?
Một
người anh em của tôi ở châu Phi đã phải lòng một cô
gái, rồi có một đứa con và đã bỏ chúng tôi để cưới
người mẹ. Sau một thời gian, người vợ của anh và anh
đều hiểu ra rằng ơn gọi của anh là làm người anh em
Đa Minh. Anh đã ở lại với chị, họ đã nuôi dạy cháu
bé, rồi với sự đồng thuận hoàn toàn của người vợ,
anh đã trở lại với chúng tôi. Tôi nhớ những lễ lạc
để đánh dấu sự trở về của anh và việc nhận lại
anh hoàn toàn. Chúng tôi đã mừng lễ và tôi đã không
thấy những người anh em lớn tuổi hờn dỗi lánh mặt,
nhưng những người anh em này cũng có thể thoáng có tư
tưởng là người anh em kia đã trúng độc đắc !
Người
con cả vẫn còn là một người con hoang đàng trong tiềm
năng, anh cũng chẳng hơn gì cậu em của mình ở buổi
đầu, không tin rằng tất cả những gì thuộc về cha đều
thuộc về anh. Cũng giống như người em hoang đàng, anh cứ
nghĩ rằng anh phải tận tay quản lý tài sản của mình
thì mới gọi được là sở hữu. Có thể anh chẳng bao
giờ dám. Anh nổi giận vì anh vẫn mơ chuyện ra đi nhưng
lại không đủ can đảm. Charles Péguy từng nói rằng một
con người tội lỗi nặng nề hiểu được sự thứ tha
nhiều hơn là một con người đạo đức.
Có
thể các hội thánh của chúng ta phải đau khổ vì không
có đủ những con người tội lỗi nặng nề đang cầm
quyền bính, những con người có thể hiểu thực sự rằng
tất cả những gì của Chúa Cha đều là của chúng ta.
Thánh Phêrô và thánh Phaolô là những mẫu gương đầy ý
nghĩa : con người từng chối Chúa và con người từng
bách hại các môn đệ của Chúa. Có lẽ chúng ta phải có
can đảm để bầu làm tổng quyền và giám tỉnh những
con người đã phạm một trọng tội. Đấy là truyền
thống Đa Minh, phải không, anh Yvon ?
“Là
những người không biết sợ”
Chúng
ta kết luận. Lãnh đạo đúng là một công việc phục
vụ. Nhưng chính khi phục vụ việc ân sủng bất ngờ
xuất hiện mà chúng ta phục vụ các hội dòng của chúng
ta nhiều nhất. Điều này đòi chúng ta có một sự co dãn
khủng khiếp, phải khước từ, đừng để cho mình bị
giam hãm trong những vai trò đã được ấn định trước.
Đó là chúng ta phải giữ cho luôn sống động kỷ niệm
về một tấn kịch duy nhất thật sự quan trọng, tấn
kịch về cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô. Tất
cả những gì còn lại đều tương đối ít quan trọng.
Lãnh đạo, chính là dám làm bước đầu tiên, dấn thân
vào tính cách có thể thương tổn khi mọi người đứng
đằng sau quan sát. Chúng ta phải mở con đường đi tới
ngày lễ bằng cách giữ cho luôn sống động tia lửa của
tính hồn nhiên. Vắn tắt, điều phải làm, đó là làm
những người không biết sợ.
Québec,
ngày 7 tháng sáu năm 2008
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire