lundi 6 avril 2015

vai trò và những thách đố



Người ta yêu cầu tôi hôm này nói về “những thách đố đối với việc lãnh đạo trong đời tu”. Tuy từ ngữ “thuật lãnh đạo” là một từ gốc gác tiếng Anh, nhưng tôi vẫn không thích. Tôi thấy trong Hội Thánh, chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Giêsu Kitô, còn những người khác, nhất là chúng ta ở đây, nam cũng như nữ, chúng ta đều là những người môn đệ. Còn đối với tu sĩ nam nữ, tôi cho đây là một cách để tránh từ vựng cổ điển vẫn được dùng để chỉ về “các bề trên”, vì nói đến bề trên thì cũng hàm ý có “những người bề dưới”.

Mỗi năm, Hội nghị các bề trên thượng cấp Ái nhĩ lan soạn ra một bản phân tích về ngân sách chính phủ ; việc ngồi phân tích phê bình thường là vất vả. Chính phủ vẫn giao động. Sau cùng, ông Thủ Tướng tuyên bố rằng ông không thể đánh giá thực nghiêm túc một thể chế cho mình vừa là bên trên lại vừa là thượng cấp. Vì thế, nhóm này đã lấy tên là Hội Đồng dòng tu. Những hình như đâu đâu người ta cũng sử dụng từ ngữ “lãnh đạo” ; do đó, với lòng khiêm tốn rất mực Đa Minh, tôi xin chấp thuận dùng từ này !

Tôi xin trình bày vấn đề với anh chị em xuyên qua dụ ngôn người con phung phá. Như thế có vẻ hơi xa lạ vì mối liên hệ của dụ ngôn ấy với việc lãnh đạo không hiển nhiên, rõ rệt. Nếu tôi khởi đi từ bản văn này, đó là vì chúng ta quá dễ có khuynh hướng nghĩ đến việc lãnh đạo bằng những từ ngữ quản lý, quản trị. Thế giới buôn bán dịch vụ thống lãnh trí tưởng tượng của chúng ta. Trong một bữa ăn tối, cách đây hai hoặc ba năm, tôi ngồi cạnh ông phó chưởng ấn của đại học Cambridge. Ông khó có thể hình dung những gì tôi đã chế tạo được trong chín năm tôi làm Tổng Quyền của Dòng. Cuối cùng, vẻ mặt ông rạng rỡ : “À, tôi hiểu ra rồi ! Cha đã là một p.-d.g. đa quốc gia. Làm thế nào các ông Đa Minh có thể cạnh tranh với các ông Phan Sinh trên thị trường ơn gọi ?”.

Sung vào việc phục vụ ân sủng”

Trong các sách Tin Mừng, khuôn mẫu Đức Giêsu cống hiến cho chúng ta là khuôn mẫu của việc phục vụ. Và đó là điều cơ bản. Đây Đức ông Ken Untener tiếp đón những con người đến nhà của của ông như thế này : “Chào nhá. Tôi tên là Ken và tôi sẽ là người phục vụ của anh em”. Đúng đấy, nhưng mà là loại người phục vụ nào ? Những người giáo dân thường vui khi nghe chúng ta nói rằng chúng ta được mời gọi để làm những người phục vụ, những người tôi tớ. Nhưng họ vẫn có phần ngạc nhiên khi thấy rằng thực ra chính chúng ta đang nói để bảo họ làm cái này cái nọ. Nói đến đây, tôi nhớ đến vị giám mục người Ái nhĩ lan từng loan báo, khi về tới tòa của mình, rằng ông sẽ phục vụ giáo phận bằng một bàn tay sắt.

Tôi theo nguyên tắc là việc lãnh đạo của Kitô giáo là công việc phục vụ ân sủng của Thiên Chúa. Chúng ta phục vụ con người bằng việc phục vụ sự xuất hiện bất ngờ của ân sủng. Cornelius Ernst là một người Đa Minh đã ảnh hưởng nhiều đối với tôi. Cha của anh là một Kitô hữu người Hòa Lan còn mẹ của anh là một Phật tử gốc Sri Lanka. Anh đã hiến dâng cuộc đời cho cuộc gặp gỡ giữa Đông với Tây và đã viết một tác phẩm kỳ diệu về ân sủng. Theo anh, ân sủng không phải là một điều gì đó, một cái gì đó, một bản thê. Đó là sự xuất hiện bất ngờ của Thiên Chúa trong cuộc đời chúng ta. Anh gọi đó là “khoảnh khắc sản sinh”. Nơi bông hoa, điều kỳ diệu không phải là sự kiện bông hoa hiện hữu, bông hoa có đấy, nhưng chính là sự nở ra, là hành vi triển nở. Anh viết : “Mỗi khoảnh khắc sản sinh là một mầu nhiệm. Đó là buổi bình minh, là sự khám phá, là mùa xuân, là sự chào đời, là sự đâm chồi nảy lộc, là sự bừng tỉnh, là sự siêu việt, là giải phóng, là sự xuất thần, là tiếng ưng thuận của đôi vợ chồng, là quà tặng, là sự tha thứ, là hòa giải, là sự luân chuyển, là niềm tin, là niềm hy vọng, là lòng mến. Nói được rằng Kitô giáo là sức mạnh biến đổi tất cả và canh tân vạn sự : Này đây ta làm cho mọi sự thành mới” (Kh 21,5).

Dụ ngôn người con phung phá (Lc 15,11-32)

Mỗi một dụ ngôn và mỗi một chi tiết tưởng như rắc rối của sách Tin Mừng đều giúp khai thác sự xuất hiện của ân sủng. Tôi không dám dùng câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình bởi vì trong cảnh tượng ấy, Đức Giêsu đưa ra một chứng minh đẹp về cách thế giúp sinh động một buổi họp bằng cách hòa mình với những người tham dự không mấy dễ tính. Tốt hơn chúng ta xem dụ ngôn người con phung phá dẫn đưa chúng ta đi tới đâu.

Một người có hai cậu con trai. Cậu bé nói với cha : ‘Thưa cha, xin cho con phần gia tài thuộc về con’. Và người cha chia phần của cải của ông. Ít ngày sau, cậu bé thu quén tất cả những gì cậu có, và lên đường đến một xứ xa xôi, ở đó cậu phung phí phần sản nghiệp của mình khi sống một cuộc đời vô trật tự”.

Nghe những chữ đầu tiên – một người có hai cậu con trai – anh chị em rất có thể ngờ rằng khuôn mẫu của thuật lãnh đạo được đề ra sẽ là người cha. Các vị bề trên hết còn hợp thời nhưng những ông bố tốt lành thì lại “lạnh”. Nhưng thực ra, để thực sự đi vào dụ ngôn, cần phải đặt mình vào mỗi một nhân vật. Chúng ta là người cha nhưng cũng là hai cậu con trai và những người đầy tớ, nhưng có lẽ con bê béo là đáng để ý nhất ! Sự xuất hiện của ân sủng trong trình thuật này đòi hỏi sự có mặt của mỗi một trong các nhân vật trên.

Có tinh thần lãnh đạo tức là từ chối để cho mình bị giam hãm trong một định nghĩa hẹp hòi về vai trò của mình. Chúng ta có mặt ở đó để làm tất cả những gì cần thiết cho ân sủng có thể bất ngờ xuất hiện. Nếu chúng ta nhấn mạnh về việc chúng ta nắm giữ những chức năng đã có sẵn, mọi việc có thể khựng lại. “Đấy không phải là việc của tôi”. Khi tôi còn làm tuyên úy ở trường Trung học hoàng gia, tôi đi gặp một người theo Anh giáo khả kính, tên là Ivor Smith Cameron, để xin ông điều tôi nghĩ là phải làm. “Cha có bằng lòng đi rông với chủ ý là phạm một tội ác không ?, ông đã trả lời tôi như thế. Tất cả những người khác ở cư xá sinh viên đều có những phận vụ rõ rệt, từ ông tổng giám hiệu cho tới những người có trách nhiệm về công việc. Vị tuyên úy có mặt ở đó để làm những gì có thể xem ra là cần thiết. Một anh Đa Minh người Pháp đến ở lại Oxford để học tiếng Bengal trước khi đi phục vụ những người nghèo nhất trong số những người nghèo. Khi tôi hỏi xem anh sắp làm gì, anh đã trả lời rằng chính họ, những người nghèo, sẽ nói cho anh biết anh phải làm gì.

Có hôm một anh Đa Minh đáng kính người Mỹ đến ở lại tu viện “Blackfriars”, ở Oxford. Người anh em mở cổng cho anh vừa lau nhà xong thì, một cách đường bệ, vị khách kia ném cho anh câu hỏi : “Này anh, mang cho tôi một tách trà”. Người anh em ấy đi lấy trà. “Rồi, bây giờ, người Mỹ kia nói, dẫn tôi lên phòng của tôi”. Người anh em kia lại vội vàng tuân theo. Sau cùng, vị khách mới hỏi : “Giờ tôi muốn chào Cha tu viện trưởng một cái, dẫn tôi đến phòng cha ấy. – Dạ, con là tu viện trưởng đây”, người anh em kia thưa một cách đơn sơ. Vị tu viện trưởng ấy chính là nhà thần học Fergus Kerr !

Cậu bé nói với cha : ‘Thưa cha, xin cho con phần gia tài thuộc về con’. Và người cha chia phần của cải của ông”.

Dụ ngôn nói về sự mất hiệp nhất của gia đình và sự phục hồi như thế nào. Đó chính là kết quả của ân sủng và là trách nhiệm đầu tiên của việc lãnh đạo. Thánh Phaolô viết cho tín hữu Êphêxô : “Ơn gọi của anh em đã mời gọi hết thảy anh em đến chỉ một niềm hy vọng như thế nào, thì cũng chỉ có một thân thể duy nhất và một Thần Khí duy nhất như thế. Chỉ có một một Chúa, chỉ có một đức tin, chỉ có một phép rửa, chỉ có một Thiên Chúa và là Cha của hết thảy mọi người, Đấng cai trị trên hết thảy mọi người, qua hết thảy mọi người và trong hết thảy mọi người” (Ep 4,5). Ân sủng bao trùm lấy cả sự chia rẽ. Cho nên, bổn phận thứ nhất của anh chị em, với tư cách là những người lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo, chắc chắn hệ tại việc nuôi dưỡng sự hiệp nhất trong chính các cộng đoàn của anh chị em cũng như sự hiệp nhất giữa các cộng đoàn với Hội Thánh phổ quát.

Hòa giải chân lý với sự hiệp nhất

Nhưng làm thế nào hòa giải điều đó một cách chân thành ? Chân lý và sự hiệp nhất có thể ở trong tình trạng căng thẳng. Xin cho tôi chia sẻ với anh chị em một kinh nghiệm riêng tư. Làm Tổng Quyền của Dòng anh em giảng thuyết, công việc thứ nhất của tôi hệ tại việc bảo đảm sự hiệp nhất của Dòng bởi vì ta không thể giảng thuyết Tin Mừng mà lại chia năm xẻ bảy được. Vì thế, cần phải dàn xếp những căng thẳng giữa tả với hữu, giữa những người trẻ với những người già, giữa thế giới thứ nhất với thế giới thứ ba.

Khác với phần lớn các Dòng khác, chúng tôi luôn luôn cố gắng bảo toàn sự hiệp nhất, không giống như nhiều Dòng khác mà vì lịch sự tôi không được phép nêu tên ! Nhưng Dòng này lại có khẩu hiệu là “Veritas”, chân lý. Tổng Quyền có bổn phận phục vụ Dòng bằng cách mạnh dạn rao giảng chân lý. Nhưng làm thế nào để công bố chân lý với sự dạn dĩ mà anh em không bị chia rẽ ? Và làm thế nào để sống hiệp nhất mà không phải đi vòng vèo qua hết ngõ này đến ngóc ngách kia ? Đó là lưỡng đạo luận của phần lớn các cộng đoàn ngày nay. Nếu anh chị em rao giảng chân lý cách dạn dĩ, anh chị em sẽ phải đành chịu thất bại.

Dụ ngôn cho chúng ta một số chỉ dấu. Trước hết, chẳng có gì cho thấy là người cha kia làm kịch. Ông cụ chẳng có sụp xuống dưới chân cậu bé để van vỉ cậu chịu khó ở lại nhà ; ông lại càng không hăm dọa. Cuộc sống vẫn bình lặng trôi. Các tu sĩ chúng ta là những người có tài kịch hóa vấn đề, kể từ thời có bất đồng giữa ông Phêrô với ông Phaolô cho tới hôm nay. Tôi biết điều ấy. Tôi đã sống chín năm ở Italia, và có lẽ đôi khi ta đã ngỡ mình đang xem một vở nhạc kịch của Puccini ! Nhưng nếu chúng ta phục vụ ân sủng của Thiên Chúa, thì chỉ có vở kịch duy nhất đã diễn ra. “Đức Kitô đã chết, Đức Kitô đã phục sinh, Đức Kitô sẽ lại đến”. Một trong những cách thế để giữ cho chân lý và sự hiệp nhất gắn kết với nhau, đó là sống vì tấn kịch cơ bản của ân sủng ấy hơn là đổ dầu vào tia lửa nhỏ để làm cho mọi cái đầu nóng thêm. Như Dietrich Bonhoeffer từng viết cho giám mục Bell, ngay trước khi ông bị Đức quốc xã sát hại, chiến thắng là chắc chắn.

Để tôi kể cho anh chị em một câu chuyện khác thời cha Fergus Kerr làm tu viện trưởng Oxford. Khi tôi còn là một sinh viên Đa Minh trẻ ở tu viện Blackfriars, phòng tu viện trưởng bị một nhóm theo cánh hữu tấn công, nhóm cánh hữu này muốn công kích sự dấn thân của nhóm cánh tả. Hai lần giữa đêm hôm khuya khuắt, người ta ném những túi thuốc nổ nhỏ gây ra nhiều tiếng ồn ào náo động và làm cho cửa kính vỡ loảng xoảng. Tất cả cộng đoàn thức dậy hết, trừ tu viện trưởng. Tôi thích thú khi thấy anh em người thì còn mặc pyjama, quần soọc đánh bốc … túa ra ! Cảnh sát và lính cứu hỏa đã tới. Sau cùng, tôi đi đánh thức tu viện trưởng. “Thưa cha Fergus, tu viện ta bị tấn công, xin cha dậy mau. – Có ai chết không ? – Thưa không. – Có ai bị thương không ? – Thưa không – Thế thì tốt. Này, để tôi ngủ và sáng mai chúng ta lại nói chuyện ấy sớm nhá.” Đấy là bài học vỡ lòng về thuật lãnh đạo tôi đã được học !

Ra như người cha cứ để cho tấn kịch diễn ra. Không phải do ông cụ tính tình thụ động, nhưng do lòng ông tin tưởng, như thể ông thấy trước thế nào đứa con trai của ông cũng lại trở về nhà. Ông sẽ mở mắt cho lớn để nhận thấy cậu bé còn ở đằng xa, đang trên đường về. Ông phải để ý.

Chống lại thứ văn hóa kiểm soát

Người ta gọi văn hóa của xã hội của chúng ta là “văn hóa kiểm soát”, thế nhưng chúng ta dường như lúc này lúc khác cũng kiểm soát những gì đang diễn ra. Chúng ta đang sống trong cái Anthony Giddens gọi là “thế giới đang trốn chạy”, “một khu rừng rậm được tạo nên bởi đủ mọi thứ”. Trong thế giới đang trốn chạy của chúng ta, chúng ta tìm kiếm sự an toàn, những chỉ dẫn chính xác và không mơ hồ để giữ nước làm sao cho chúng ta đừng bị chìm. Ở đó không được có bất kỳ nguy cơ nào và, nếu như có xảy ra chuyện gì, người ta không đươc trách cứ hoặc truy đuổi tôi. Từ đó, chúng ta có sự ám ảnh nực cười liên quan đến những biện pháp để giữ gìn sức khỏe và để được an toàn. Tôi đã nghe nói đến những chiếc máy giặt có mang nhãn hiệu dặn “không được cho các em bé hoặc súc vật đàn vào”

Việc lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo phải chống lại thứ văn hóa kiểm soát, Hội Thánh công giáo đã sống cách khốn khổ một sự lệ thuộc thực sự đối với việc đó. Những con nước hỗn mang vùi giập chúng ta ngày thứ Sáu tuần thánh, rồi đến sáng ngày Vượt Qua, những người phụ nữ đã nghe thấy vị thiên sứ bảo họ : “Chị em đừng sợ”. Nhưng theo thánh Máccô, như đã xảy ra trường hợp của nhiều người lãnh đạo dòng tu, các bà không nói gì cả vì các bà sợ.

Người cha để cho những biến cố cứ diễn ra ngay cả khi ông không biết những biến cố ấy sẽ kết thúc ở chỗ nào. Đấy, thuật lãnh đạo, không cần biết trước tình cảnh sẽ chuyển biến như thế nào. Nhưng đấy cũng là không sợ hãi, cho dù hỗn mang có gầm gừ đe dọa đến đâu. “Đức Kitô đã chết, Đức Kitô đã phục sinh, Đức Kitô sẽ lại đến”.

Nghệ thuật chết đi để cho tương lai mở ra”

Đứa con phung phá nhìn thấy trước tương lai. Theo Henri Nouwen, cậu ấy nói với cha : “Con không thể chờ đến khi cha chết được !”. Con muốn tương lai ngay lập tức. Đó không phải là cách hay để tiến hành công việc và cậu sau này sẽ phải sửa chữa lại những chiếc bình đã bị vỡ, nhưng thuật lãnh đạo để cho tương lai cứ diễn ra ngay cả khi điều đó làm cho chúng ta phải đi vào trong chỗ không còn được biết đến nữa. Điều đó cũng có nghĩa là để cho những gì hiện đang có chết đi, hầu một cái gì khác có thể đến. Ân sủng của Thiên Chúa, chính là sự ập đến của tương lai, và như thế có nghĩa là hiện tại phải chết đi. Các giáo phận và các dòng tu thường quá ưu tư về quá khứ và chúng ta dính chặt vào đó vì các bề trên tổng quyền hoặc giám tỉnh không muốn vượt qua lịch sử để khép lại cái thể chế quí báu ấy.

Tôi nhớ một bài giảng của một vị Giám tỉnh vốn là một người theo Presbyterien ở Ecosse, nhân lễ khấn trọng. Bài giảng dữ dội nhưng cuốn hút. Cha nói : “Tôi đang đi tới hồi kết cuộc đời tu trì của tôi, còn anh em thì đang bắt đầu đời tu của anh em. Khi nghĩ lại những gì là đời tu của tôi, đã kéo dài lâu, tôi nhìn lại tất cả những gì mình đã làm để kiến tạo và trợ giúp. Thường tôi đã làm việc cật lực để xây dựng một cái gì đó, để lưu lại một công trình sau lưng tôi, và rồi một thằng điên đã nổi lên, nhân danh sự tiến bộ, phá hủy hết tất cả những gì tôi đã làm được. Vậy, tôi cho anh em một lời khuyên : cho dẫu các chương trình kế hoạch anh em ấp ủ có là gì đi nữa, cho dẫu những dự án anh em đã chuẩn bị là thế nào đi nữa, xin anh em hãy chắc một điều : Thiên Chúa sẽ làm cho hỏng hết !”

Vì không có cơ hội để làm một người thuộc phái Presbyterien xứ Ecosse, nên tôi không nói được đúng như thế, nhưng sự kiện là thuật lãnh đạo bao gồm ars moriendi, nghệ thuật chết, để cho tương lai mở ra. Đó là sáng tạo nên một không gian cho những người trẻ để họ có thể làm những gì chúng ta không thể làm, không thể đoán trước, chẳng thể tưởng tượng được, buông hiện tại ra, thêm một chút nghi ngờ bất chợt vào món nước chấm. Nếu chúng ta không thể phác họa ra cái chết của những thể chế của chúng ta thì chúng ta sẽ phác họa ra cái chết của chính chúng ta như thế nào ? Chúng ta sẽ chỉ thực sự giảng thuyết sự phục sinh nếu như người ta thấy chúng ta đối diện với cái chết một cách can đảm. Hôm qua, tôi đã nói với anh chị em về lần tôi đi thăm đan viện sắp đóng cửa và lời của vị cựu giám tình : “Người còn để cho Con của Người chết nữa kìa ! Đúng không ?”.

Nhưng chúng ta tiến lên hơn một chút trình thuật của chúng ta.

Khi cậu đã tiêu hết sạch, thì một nạn đói khủng khiếp xảy ra trong miền ấy, và cậu bắt đầu lâm cảnh khốn cùng. Cậu đi làm mướn cho một người trong xứ, người ấy sai cậu ra đồng chăn lợn. Cậu rất muốn lấy rau cho lợn ăn mà tống cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ, cậu nghĩ : ‘Bao người làm công ở nhà cha mình có bánh ăn dư dật, còn mình ở đây, mình đang chết đói ! Mình sẽ giở về nhà cha mình, và sẽ thưa với ông cụ : Thưa cha, con đã phạm tội với trời và với cha. Con chẳng còn đáng được gọi là con trai của cha nữa. Xin cha coi con như một trong những người làm công của cha’. Thế là cậu ra đi để về nhà cha. Khi cậu còn ở đàng xa, cha của cậu đã nhận ra cậu và động lòng thương ; ông chạy tới ôm lấy cổ cậu và hôn cậu tới tấp”.

Ở đây, cả cậu con trai phung phá lẫn người cha đều là chứng cứ cho thuật lãnh đạo hiểu theo nghĩa căn bản nhất của từ này. Đức Kitô là Vị Lãnh Đạo của chúng ta vì Người đi trước chúng ta để hiện diện nơi Thiên Chúa. Theo thư gửi tín hữu Hípri, Người đã khai mở cho chúng ta “một con đường mới và sống động” (10,20). Thuật lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo về căn bản không hệ ở chuyện có những kế hoạch đầy tham vọng đối với giáo xứ, ở chỗ chỉ lo có những quyết định can đảm đáng mặt một ông chủ tịch công ty. Lại càng không phải là nghĩ ra những chiến lược sáng chói như một ông đại tướng vốn làm. Tất cả những chuyện đó có mặt tốt của nó, nhưng thuật lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo lại hệ tại trước hết ở chỗ là người thứ nhất tiến lên, ở chỗ lên đường một chút như cậu con trai phung phá lên đường gặp lại người cha, và như cha của cậu chạy tới để đón cậu.

Thuật lãnh đạo của người con trai và của người cha giả thiết là mỗi người từ bỏ đi vị trí danh dự của mình. Cậu con trai sẽ gặp cha khi từ bỏ vị trí danh dự của người con, bằng lòng để được đối xử chỉ như một người tôi tớ, còn người cha thì cởi bỏ phẩm vị của bậc gia trưởng để băng qua cánh đồng, như một đứa bé, mặc cho ai muốn cười nhạo cũng được. Một cách triệt để hơn, chúng ta quan niệm thuật lãnh đạo của người con là xin sự tha thứ, còn của người cha là thậm chí chẳng đợi chẳng chờ lời nói xin tha.

Tiến lên một bước vào sự thương tổn”

Vai trò chính yếu của người lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo hệ tại tiến lên một bước vào sự thương tổn. Chúng ta phải là những người đầu tiên để cho rơi xuống mọi hình ảnh ưu thắng của phái nam, cởi bỏ đi khiên giáp của chúng ta, đưa ra những lời xin lỗi, ý thức rằng có thể người ta không thèm chúng ta. Chúng ta phải là những người đầu tiên nói : “Đáng tiếc quá !” cho dù chúng ta có cảm tưởng rõ ràng là người kia đã gây ra nhiều sự đáng tiếc hơn là chúng ta đã làm cho người ấy. Chúng ta phải tiến lên phía trước, phải ra khỏi giao thông hào, liều để cho mình có thể bị giễu cợt. Chúng ta không đợi những dấu hiệu bảo đảm qua lại rồi mới bắt đầu động đậy.

Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã làm chuyện đó cách can đảm trong những tương quan của người với đạo Hồi : Người đã tìm tình bằng hữu, người đã xin xá lỗi, người đã sẵn sàng để bị chối từ. Đó không phải là sự cô đơn của một vị thủ lãnh vĩ đại : đó là tính cách thương tổn của thánh giá. Như thế có nghĩa là chúng ta phải là những người đầu tiên để cho rớt đi vị trí danh dự của chúng ta. Tôi quen nói với các vị giám tỉnh : “Nếu anh em để tâm lo lắng cho vị trí danh dự của mình, thì những người anh em sẽ không có cảm tưởng là họ phải lo lắng đến chuyện đó nữa. Nhưng nếu anh em không quan tâm lo lắng về chuyện đó, chính họ sẽ để tâm lo cho anh em”.

Hành trình cậu con trai thực hiện trước hết không theo tính cách địa dư. Khi lâm cảnh phải thèm thuồng những gì lợn ăn, người ta bảo rằng “bấy giờ cậu trở về với chính mình”. Cậu trở về với căn tính thâm sâu của cậu, căn tính là người con trai của cha mình. Việc quay về nhà cha của cậu không là gì khác hơn là biến thành hành động con đường cậu đã rảo qua khi nhớ lại rằng cậu là con của cha cậu. Đây mới là lần đầu tiên cậu trở về nhà. Cậu không còn nhìn cha như là một đối thủ, như kỳ đà cản mũi không cho cậu được động tay vào tiền bạc nữa. Lần đầu tiên, cậu nhìn cha mình như là một người hằng lo sao cho những người làm việc cho mình có bánh ăn dư dật. Và cha của cậu nhận ra cậu khi cậu còn ở đằng xa bởi vì ông cụ không ngớt đợi chờ con người không có giây phút nào thôi không còn là con của ông cụ nữa, bất kể đã có chuyện gì xảy ra.

Giữ cho có cái nhìn của Thiên Chúa về người khác

Ở đây tôi hơi phải cố gắng để tìm từ ngữ diễn tả, nhưng tôi cố gắng để anh chị em hiểu rằng thuật lãnh đạo giả thiết ta phải nhìn những con người trong Đức Kitô. Vô khối áp lực nặng nề vẫn ảnh hưởng đến chúng ta khiến chúng ta nhìn những người khác như là những đối thủ luôn đe dọa chúng ta, hoặc như là những đồng minh hay những người cùng phe đảng hữu ích cho chúng ta. Có một cám dỗ là chúng ta dễ dàng nhốt con người ta vào những ô những loại và nhìn họ như là những người tiến bộ nguy hiểm hoặc những người bảo thủ cứ khư khư ôm chặt quá khứ. Các vị giám tỉnh nam nữ chúng ta có thể bị cám dỗ coi anh chị em mình như những con chốt để chuyển dịch trên bàn cờ tỉnh dòng hoặc như những nan đề cần phải giải quyết.

George Patrick Dwyer, tổng giám mục Birmingham, ở Anh quốc, có lần ngồi cạnh một linh mục trong khi người ta đang dâng lễ phẩm trong Thánh lễ ; một phụ nữ vừa mang lễ vật lên bàn thờ vừa nhảy. Vị tổng giám mục quay sang nói với ông linh mục : “Không biết bà ấy có xin cái đầu đặt trên mâm không, nếu xin tôi sẽ cho”.

Khi người cha nhận ra cậu con trai của mình còn ở đằng xa, có lẽ ông bị cám dỗ coi cậu này như là một vấn đề sẽ phải giải quyết. Lạy Chúa, chúng con sắp phải làm gì cho tay này đây ? Thằng anh nó sắp phản ứng thế nào ? Thằng này lại có chiêu gì mới nữa đây ? Phải nó đã thất bại và con lại phải cho nó tiền nữa ? Nhưng thay vì đó, ông cụ đã nhìn thấy một đứa con. Đức con trai đang trở về nhà, nó lại là nó, tức là nó vẫn là con của mình. Người cha không bao giờ quên cậu. Thuật lãnh đạo hệ tại ở việc giữ cho mình luôn có cái nhìn của Thiên Chúa về con người.

Có lẽ cậu con trai cần phải vứt đi những gì anh ta đã từng là trước khi có thể nhận lại căn tính của cậu, lần đầu tiên cậu nhận một cách trọn vẹn và tự do. Người anh cả của cậu chưa làm như thế bao giờ. Có lẽ chúng ta phải để cho người ta – là những người anh em và những người chị em của chúng ta, các linh mục, các nhà thần học – có được cảm tưởng là đang đi lan man ra ngoài, đang theo những thái độ có vẻ gây hấn, đang đề ra những thần học hơi điên điên, đang đi vào no man’s land, miền đất không người, trong khi chúng ta kiên nhẫn chờ đợi cho họ tiếp tục bước đi và họ quay được về nhà, một cách tự do. Nếu chúng ta yêu quí sự tự do của người ta, thì bấy giờ người ta có thể tự do bỏ Hội Thánh những họ cũng có thể, một cách tự do, trở về mái ấm khôn ngoan hơn và tốt hơn bội phần.

Cơn cám dỗ đang rình rập Hội Thánh công giáo hẳn là gieo rắc nỗi kinh hãi ngay khi ta chưa hoàn toàn nắm được vấn đề trong tay ! Chúng ta sợ những nguy cơ và chúng ta thiếu mất lòng tin tưởng. Khi thánh Đa Minh phái những anh em trẻ nhất, những người vừa mới chân ướt chân ráo vào Dòng, các thầy dòng Xitô đã cảnh giác thánh nhân rằng làm như thế là thánh nhân đang đánh mất họ. Thánh Đa Minh đã trả lời các thầy rằng : “Tôi chắc chắn là các anh em trẻ của tôi sắp đi thì họ cũng sẽ trở về ; người ta sắp phái họ đi và họ sẽ trở lại ; nhưng những anh em trẻ của quí thầy có giữ lại cũng không được, họ sẽ đi ngay khi họ được lên đường”. Lòng tin tưởng là cái nhân của thuật lãnh đạo.

Khi cậu con thứ còn ở đàng xa, cha của cậu đã nhận ra và ông động lòng thương xót ; ông chạy đến ôm cổ cậu và hôn liên hồi. Cậu con trai thưa với Cha : ‘Thưa cha, con đã phạm tội với trời và với cha. Con chẳng còn xứng đáng được gọi là con trai của cha nữa …’. Nhưng người cha nói với gia nhân : ‘Mau đem áo đẹp nhất mặc cho cậu. Đeo nhẫn vào ngón tay cho cậu và xỏ dép vào chân cậu. Các anh đi bắt lấy con bê béo, giết thịt ; chúng ta phải ăn mừng. Vì con trai của ta đã chết mà nay trở về sống ; đã mất mà nay tìm lại được. Và họ bắt đầu cuộc lễ”.

Họ bắt đầu cuộc lễ. Hẳn đây là điểm căn bản của dụ ngôn này. Nếu Đức Giêsu thuật lại dụ ngôn này, chính là vì những người Pharisêu và các kinh sư đã xì xào về Người : “Con người này tiếp đón những người tội lỗi và ăn uống với họ”. Điểm chủ đạo của câu chuyện, chính là lời người cha mời cậu con trai cả vào mừng với mọi người : “Phải mở lễ cho lớn và phải vui ; vì em trai của con đã chết mà nay trở về sống ; đã mất mà nay tìm lại được !”.

Những người lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo có lẽ phải mở những cuộc lễ. Ai sẽ là người đầu tiên đến khai vị trước bữa ăn tối ? Chúng ta phải là những người tìm thấy niềm vui của mình trong cái mà những hữu thể nhân linh là, cho đi là họ đang ở trong tình trạng rối ren cách mấy. Những người lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo là những bậc thầy của lễ lạc. Bước đầu của việc giảng Tin Mừng đối với Đức Giêsu là một cuộc lễ. Chúng ta có nói đến điểm luân lý trọng yếu cũng chẳng ăn thua gì bao lâu người ta không tuyệt đối tin chắc rằng Thiên Chúa đang vui vì cuộc đời của họ, bởi vì cuộc đời ấy mở lối vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, sự vui thích của Chúa Cha nơi Chúa Con chính là Chúa Thánh Thần : “Con là con yêu dấu của Ta, nơi Con Ta đã đặt tất cả tình yêu của Ta”.

Giữ gìn tinh thần ngày lễ
Gánh nặng của công việc lãnh đạo có thể làm cho niềm vui ngày lễ trở thành khó khăn. Chúng ta có thể đánh mất niềm vui tự phát của người cha đang chạy vội chạy vàng hướng đến thằng con trai vô lại của mình. Niềm vui của Tin Mừng có thể chết ngạt bởi những gai góc là những ưu tư lo lắng thuộc về thế gian này (Mc 4,18).

Tôi rất thích những cuốn tiểu thuyết của Patrick O’Brian. Nhân vật Stephen Maturin, anh chàng bác sĩ-điệp viên, tuyên bố : “Cách sự vui vẻ biến mất thật lạ đời – có lẽ chăng tôi nói hơi bi thảm ? Sự vui vẻ của tinh thần, niềm vui hồn nhiên và lấp lánh. Quyền bính là kẻ thù lớn của nó – việc sở hữu quyền hành. Tôi thấy hình như ít người qua tuổi năm mươi mà vẫn thực sự là những con người. Hầu như chẳng có ai hành sử lâu một quyền bính cả. Đây, những vị chỉ huy đang lên khỏi tàu. Thủy sư đô đốc Warne, Những con người nhăn nheo (hỡi ôi, tôi nói về tâm hồn họ chứ không phải về cái bụng của họ1)”.

Làm thế nào giữ cho sự vui tươi hồn nhiên, đầy nét thanh xuân thật sống động, chứ không nhăn nheo úa héo ? Không muốn nói đến những cái bụng ! Có lẽ một phần nhờ biết từ khước để cho cuộc đời trở thành bản sao của những người khác. Các phương tiện thông tin và cách thế thông tin của những phương tiện đó về sự lành sự dữ ; các nhóm áp lực trong các hội thánh của chúng ta đang muốn lôi kéo chúng ta vào những vụ việc của họ ; những sự am hiểu và sự thận trọng của những người khác, sự sợ hãi của họ về một sự lộn xộn đổ vỡ có thể có và về một tương lai còn chưa biết được. Người cha từ khước lo lắng thái quá về những gì những người khác vẫn nghĩ. Ông không có cố vấn thông tin bên cạnh để đánh giá xem báo chí liệu sẽ bàn tán về tin này như thế nào. Chúng ta không nên lo lắng mình sẽ bị người ta cắt nghĩa sai. Ân sủng giúp chúng ta tham gia vào sự hồn nhiên của Đức Giêsu. Ân sủng là sự hồn nhiên của Thiên Chúa.

Chúng ta cũng phài dành cho người con trai cả một ít phút nữa :

Người con trai cả bấy giờ đang ở ngoài đồng. Khi anh về gần tới nhà thì nghe thấy tiếng ca nhạc và nhảy múa. Gọi một gia nhân ra, anh hỏi xem có chuyện gì. Người này trả lời : ‘Đấy là em trai của cậu vừa trở về. Và cha của cậu đã giết con bê béo vì ông cụ thấy con trai ông cụ trở về mạnh khỏe’. Bấy giờ người con trai cả nổi giận, và không chịu vào. Cha của cậu đi ra năn nỉ cậu. Nhưng cậu đáp lại : ‘Biết bao nhiêu năm tôi phục vụ cha, chẳng bao giờ trái lệnh cha, thế mà chưa bao giờ cha cho tôi lấy một con dê con để ăn tiệc với bạn bè. Vậy mà khi thằng con trai của cha vừa về sau khi đã tiêu tán của cải của cha với bọn con gái, cha lại bảo giết mừng nó một con bê béo !” Người cha đáp : ‘Con ơi, con luôn luôn ở với cha, và tất cả những gì thuộc về cha là thuộc về con. Nhưng phải mở tiệc lớn và phải vui mừng, vì em trai của con đó đã chết, mà nay trở về sống ; nó đã mất, mà nay tìm lại được !”

Tôi thắc mắc không biết có dấu vết của người con trai cả đang phục sẵn nơi mỗi người lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo hay không. Nếu anh em được đặt vào một chức năng có liên quan đến quyền bính, có lẽ anh em không tiêu phí một cách rõ rệt tất cả của cải của anh em với những cô gái điếm. Người ta đã chọn anh em có lẽ vì anh em có cánh tay chắc, như người ta nói, điều này giả thiết một quan niệm đúng là hơi ngạc nhiên về thuật lãnh đạo. Ta cứ tưởng tượng xem, công tước Edimbourg có cả một đoàn hoàng hậu. Thánh Augustinô, rốt cuộc với một đứa con bất hợp pháp, ngày nay có lẽ chẳng được đặt làm giám mục đâu !

Và chẳng lẽ lại không mảy may ghen tị đối với người con trai hoang đàng đã buông mình theo những giấc mơ quá ư điên rồ, đến khi trở về lại được mặc áo đẹp nhất ? Chẳng lẽ chúng ta không cảm thấy có một cái gì đó thuộc về tình cảm của những người thợ đã làm quần quật suốt ngày ở vườn nho, rồi phải chứng kiến những người vào làm giờ sau cùng lại nhận được cũng một tiền công như mình ?

Một người anh em của tôi ở châu Phi đã phải lòng một cô gái, rồi có một đứa con và đã bỏ chúng tôi để cưới người mẹ. Sau một thời gian, người vợ của anh và anh đều hiểu ra rằng ơn gọi của anh là làm người anh em Đa Minh. Anh đã ở lại với chị, họ đã nuôi dạy cháu bé, rồi với sự đồng thuận hoàn toàn của người vợ, anh đã trở lại với chúng tôi. Tôi nhớ những lễ lạc để đánh dấu sự trở về của anh và việc nhận lại anh hoàn toàn. Chúng tôi đã mừng lễ và tôi đã không thấy những người anh em lớn tuổi hờn dỗi lánh mặt, nhưng những người anh em này cũng có thể thoáng có tư tưởng là người anh em kia đã trúng độc đắc !

Người con cả vẫn còn là một người con hoang đàng trong tiềm năng, anh cũng chẳng hơn gì cậu em của mình ở buổi đầu, không tin rằng tất cả những gì thuộc về cha đều thuộc về anh. Cũng giống như người em hoang đàng, anh cứ nghĩ rằng anh phải tận tay quản lý tài sản của mình thì mới gọi được là sở hữu. Có thể anh chẳng bao giờ dám. Anh nổi giận vì anh vẫn mơ chuyện ra đi nhưng lại không đủ can đảm. Charles Péguy từng nói rằng một con người tội lỗi nặng nề hiểu được sự thứ tha nhiều hơn là một con người đạo đức.

Có thể các hội thánh của chúng ta phải đau khổ vì không có đủ những con người tội lỗi nặng nề đang cầm quyền bính, những con người có thể hiểu thực sự rằng tất cả những gì của Chúa Cha đều là của chúng ta. Thánh Phêrô và thánh Phaolô là những mẫu gương đầy ý nghĩa : con người từng chối Chúa và con người từng bách hại các môn đệ của Chúa. Có lẽ chúng ta phải có can đảm để bầu làm tổng quyền và giám tỉnh những con người đã phạm một trọng tội. Đấy là truyền thống Đa Minh, phải không, anh Yvon ?

Là những người không biết sợ”
Chúng ta kết luận. Lãnh đạo đúng là một công việc phục vụ. Nhưng chính khi phục vụ việc ân sủng bất ngờ xuất hiện mà chúng ta phục vụ các hội dòng của chúng ta nhiều nhất. Điều này đòi chúng ta có một sự co dãn khủng khiếp, phải khước từ, đừng để cho mình bị giam hãm trong những vai trò đã được ấn định trước. Đó là chúng ta phải giữ cho luôn sống động kỷ niệm về một tấn kịch duy nhất thật sự quan trọng, tấn kịch về cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô. Tất cả những gì còn lại đều tương đối ít quan trọng. Lãnh đạo, chính là dám làm bước đầu tiên, dấn thân vào tính cách có thể thương tổn khi mọi người đứng đằng sau quan sát. Chúng ta phải mở con đường đi tới ngày lễ bằng cách giữ cho luôn sống động tia lửa của tính hồn nhiên. Vắn tắt, điều phải làm, đó là làm những người không biết sợ.

Québec, ngày 7 tháng sáu năm 2008
1

Aucun commentaire: